About

This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

Cơ hội mới cho những người bị bệnh giác mạc

Lần đầu tiên tại Việt Nam, các bác sĩ Khoa Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương đã ứng dụng thành công kỹ thuật ghép giác mạc lớp cho ba bệnh nhân ghép lớp trước sâu và hai bệnh nhân ghép nội mô.
Cơ may cho những người bị bệnh giác mạc
Bệnh nhân (BN) Phương Công C., 43 tuổi, Ba Vì, Hà Nội bị loạn dưỡng giác mạc dạng Fuch. Đây là một bệnh lý giác mạc bẩm sinh. Mắt anh mỗi năm một mờ. Đã 10 năm nay (từ năm 2001) anh là BN thường xuyên đến khám và điều trị tại Bệnh viện Mắt Trung ương. Tuổi càng nhiều, bệnh càng nặng. Đầu năm 2010, anh C. gần như không còn nhìn thấy gì, thị lực chỉ đếm ngón tay trong vòng 2 mét. Tháng 12/2010, anh là người đầu tiên ở Việt Nam được các bác sĩ Khoa Kết giác mạc phẫu thuật ghép lớp sau (ghép nội mô) mắt phải.
BN Hoàng Thị T., 41 tuổi, Chương Mỹ, Hà Nội bị loạn dưỡng giác mạc dạng lưới, một bệnh giác mạc bẩm sinh di truyền. Cũng như anh C., càng có tuổi, mắt chị T. ngày một mờ và cuối cùng không còn nhìn thấy nữa. Đến khám ở Khoa Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương, chị T. chỉ đếm được ngón tay cách 3 mét. Ngày 14/7/2011, chị T. cũng may mắn là một trong những bệnh nhân đầu tiên ở Việt Nam được các bác sĩ Khoa Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương phẫu thuật ghép giác mạc lớp trước sâu cho mắt trái.
 Ca phẫu thuật ghép giác mạc.
Hành trình ghép “mảnh sáng” cho những con mắt tối
TS.BS. Phạm Ngọc Đông -  Quyền Trưởng khoa Kết giác mạc, Giám đốc Ngân hàng mắt, Bệnh viện Mắt Trung ương - người trực tiếp thực hiện phẫu thuật ghép giác mạc cho hai BN trên cho biết: Những bệnh lý giác mạc như vậy không thể chữa được bằng thuốc, chỉ có ghép giác mạc mới cải thiện được thị lực cho BN. (BN bị coi là mù lòa khi thị lực ở mức không đếm được ngón tay cách xa 3 mét). BN Phương Công C. bị loạn dưỡng giác mạc Fuch, được điều trị ghép nội mô giác mạc, kết hợp với mổ lấy thể thủy tinh bằng phương pháp Phaco, đặt thể thủy tinh nhân tạo ngay trước khi ghép giác mạc. Một trong những thì phẫu thuật khó khăn nhất là đưa mảnh ghép vào trong tiền phòng. Mảnh ghép có thể bị tổn hại ngay trong thì này và phẫu thuật thất bại. Mảnh ghép là giác mạc có các tế bào nội mô và màng Descemet đã được Ngân hàng mắt cắt sẵn, với đường kính 8,5mm, được đưa vào tiền phòng qua đường rạch 5,5mm bằng chỉ 10-0. Mảnh ghép được áp chặt vào nền ghép bởi bóng khí trong tiền phòng, không cần khâu mảnh ghép vào nền ghép. Thị lực sau mổ phục hồi tốt, mảnh ghép trong suốt và chưa có đợt thải loại ghép nào trong thời gian 10 tháng theo dõi. Mảnh ghép áp tốt vào nền ghép. Thị lực không kính sau 10 tháng đạt 20/40 (5/10), khi chỉnh kính đạt 20/25.
Với BN Hoàng Thị T. bị loạn dưỡng giác mạc dạng lưới, được điều trị bằng phẫu thuật ghép giác mạc lớp trước sâu, sử dụng kỹ thuật bóng khí lớn. Phẫu thuật viên bơm 1 bóng khí vào nhu mô giác mạc để tách màng Descemet khỏi nhu mô. Phần nhu mô bệnh lý phía trên được cắt bỏ và thay thế bằng phần nhu mô của giác mạc lành (của người hiến).  Mảnh ghép trong suốt trở lại ngay những ngày đầu sau mổ. Độ dày giác mạc trở nên bình thường sau một tháng. Thị lực được cải thiện đáng kể ngay từ tháng thứ hai sau mổ (đạt 2/10 chưa chỉnh kính). Trong thời gian theo dõi mảnh ghép 2 tháng, chưa thấy dấu hiệu thải ghép.
Theo TS.BS. Phạm Ngọc Đông, ưu điểm vượt trội của kỹ thuật ghép lớp so với ghép xuyên là: nếu thực hiện phương pháp ghép giác mạc xuyên (là phẫu thuật ghép thay thế toàn bộ chiều dày giác mạc) sẽ phải mở nhãn cầu nên có thể có một số biến chứng trong mổ như xuất huyết tống khứ, tăng nhãn áp... Thời gian sống mảnh ghép giảm bị ảnh hưởng bởi phản ứng thải ghép do các dị nguyên ở biểu mô, nhu mô và nội mô. Hậu quả của thải ghép là làm chết tế bào nội mô, giác mạc trở nên mờ đục và gây giảm thị lực. Phương pháp ghép lớp (chỉ thay thế phần giác mạc bị bệnh) sẽ khắc phục được những nhược điểm của phẫu thuật ghép giác mạc xuyên mà vẫn đảm bảo lấy hết phần giác mạc bệnh lý. Thị lực sau mổ sẽ phục hồi nhanh hơn và lâu dài hơn so với phẫu thuật ghép xuyên.
Đem lại hướng điều trị mới trong nhãn khoa
Cũng theo TS.BS. Phạm Ngọc Đông, ghép giác mạc lớp là phẫu thuật khó, nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được trong điều kiện nước ta. Việc ứng dụng kỹ thuật ghép giác mạc lớp vào thực tế điều trị sẽ là một bước tiến mới, đem lại ánh sáng cho người mắc các bệnh lý giác mạc. Đây sẽ là một trong những vũ khí mới để các thầy thuốc nhãn khoa đem lại ánh sáng cho những người không may mắn bị mù lòa do bệnh lý giác mạc. Mong muốn nhân văn
Gặp BN Phương Công C. sau 10 tháng được ghép giác mạc, mắt phải của anh nhìn rất tốt, không đau, không chảy nước mắt. Hằng tháng, anh đến Bệnh viện Mắt Trung ương kiểm tra định kỳ. Anh tâm sự: “Tôi sung sướng khi thấy mỗi ngày mắt mình nhìn một rõ. Nếu mắt phải không được ghép giác mạc thì bây giờ tôi đã mù rồi vì mắt trái hiện nay ngày càng mờ hẳn. Thật không có gì quý giá hơn. Tôi biết ơn các bác sĩ đã cho tôi ánh sáng, biết ơn những người đã hiến tặng giác mạc để người bệnh như chúng tôi lại được nhìn thấy, không trở thành tàn phế. Là người may mắn được nhận giác mạc, tôi cũng sẽ vận động, thuyết phục trong gia đình, người thân nếu chẳng may sau này qua đời… thì cũng để lại được điều gì đấy tốt đẹp cho đời”.
 Ngân hàng Mắt đã đi vào hoạt động được 4 năm. Tuy nhiên, do số người hiến còn ít nên số lượng giác mạc thu nhận được hàng năm còn hạn chế. Ngân hàng Mắt, Bệnh viện Mắt Trung ương mong muốn được sự ủng hộ hơn nữa của toàn thể xã hội, của ngành y tế để mỗi năm, Ngân hàng Mắt có thêm nhiều giác mạc từ những người hiến tự nguyện, cung cấp cho các cơ sở nhãn khoa ghép cho người bệnh (hiện có rất nhiều bệnh nhân đang chờ được ghép giác mạc). Được như vậy, chúng ta sẽ có nguồn giác mạc dồi dào trong nước, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của người bệnh Việt Nam, vừa mang ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc - một đôi mắt khép lại có thể mang đến cơ hội hồi sinh ánh sáng cho những đôi mắt khác. 
Giác mạc là một màng mỏng, trong suốt, không có mạch máu; có 3 lớp giải phẫu chủ yếu đó là biểu mô, nhu mô và nội mô. Là nơi tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài, chính vì vậy nên giác mạc rất dễ bị tổn thương. Khi giác mạc bị biến dạng hoặc mờ đục, mắt sẽ bị giảm thị lực, thậm chí bị mù lòa. Với các trường hợp mù lòa do bệnh lý giác mạc, cách điều trị duy nhất để đem lại thị lực cho bệnh nhân là ghép giác mạc nhằm thay thế phần giác mạc bị bệnh bằng giác mạc lành. Nhờ phẫu thuật này mà bệnh nhân có thể nhìn lại được và trở lại cuộc sống sinh hoạt bình thường.
  Mai Linh

832 bệnh nhân được ghép giác mạc

BV Mắt TW vừa tổng kết dự án “Nâng cao năng lực điều trị các bệnh giác mạc bằng ghép giác mạc tại BV Mắt TW” do Tổ chức ORBIS tài trợ với kinh phí gần 500.000 USD trong thời gian từ tháng 1/2005 - 12/2010. Qua 6 năm hoạt động, dự án đã thu nhận được 850 giác mạc, trong đó có 185 giác mạc của 94 người Việt Nam hiến tặng; phẫu thuật ghép giác mạc cho 832 bệnh nhân. Dự án cũng đã tổ chức tập huấn về các kỹ thuật thu nhận giác mạc, ghép giác mạc cho các bác sĩ ở BV Mắt TW và các BV chuyên khoa Mắt ở một số địa phương; truyền thông về hiến tặng giác mạc cho hơn 50 triệu lượt người; tổ chức 7 đợt khám miễn phí cho 4.000 người dân và 4 đợt phẫu thuật từ thiện ở Ninh Bình và Hòa Bình (nơi có người hiến tặng giác mạc).
HH

Một giải pháp ngăn chặn mù lòa

Hiện nước ta có khoảng 6,5% người mù do bệnh glôcôm, là nguyên nhân gây mù lòa thứ 2 nhưng tỷ lệ phát hiện bệnh lại rất thấp. Nhiều người chỉ đến viện khi đã muộn, thị lực đã không thể cứu vãn được. Tỷ lệ glôcôm trong một số cộng đồng dân cư chiếm tới hơn 2%. Điều đáng lưu ý, có 94% người dân không hiểu rõ hoặc mơ hồ về căn bệnh này. Vậy, bệnh glôcôm có nguy hiểm không, phát hiện như thế nào? Bài viết sau đây giúp độc giả hiểu rõ hơn về căn bệnh này.
 
Bệnh glôcôm là gì?
Bệnh glôcôm hay còn được gọi là thiên đầu thống được dùng để gọi một nhóm bệnh có những đặc điểm chung là nhãn áp tăng quá mức chịu đựng của mắt bình thường. Đây là một bệnh nguy hiểm của mắt, thường gây đau nhức và mất thị lực vĩnh viễn không thể hồi phục.
Bệnh glôcôm được chia làm 2 thể, thể glôcôm góc đóng (hay gặp hơn ở châu Á do mắt nhỏ, tiền phòng nông là điều kiện cho glôcôm góc đóng xuất hiện và glôcôm góc mở (gặp phổ biến hơn ở các nước châu Âu và châu Mỹ).
 Thị lực bình thường.
Ai dễ mắc?
Những người trên 35 tuổi, tuổi càng cao có nguy cơ mắc bệnh glôcôm càng lớn; Những người ruột thịt của bệnh nhân glôcôm; Bệnh nhân có tiền sử dùng corticoid kéo dài, có thể dùng corticoid tra mắt hoặc toàn thân; Những bệnh nhân có bệnh toàn thân như: đái tháo đường, cao huyết áp. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác gây bệnh glôcôm có thể gặp ở mọi lứa tuổi như chấn thương, sau viêm màng bồ đào, sử dụng các thuốc tra có chứa corticoid kéo dài…
Theo kết quả nghiên cứu của Bệnh viện Mắt TW, bệnh nhân bị glôcôm góc mở, có tiền sử tra corticoid tại mắt kéo dài chiếm 31,7%, trong đó số người trong lứa tuổi lao động (25-59) và người nghèo chiếm 63,1%. Đây là điều đáng báo động về vấn đề lạm dụng và tự ý sử dụng thuốc nhỏ mắt trong cộng đồng.
Cách nhận biết
Bệnh glôcôm có nhiều thể bệnh và nhiều nguyên nhân khác nhau do vậy triệu chứng biểu hiện cũng rất khác nhau tùy thể loại bệnh. Các thể bệnh góc đóng biểu hiện thường cấp tính với các triệu chứng rất điển hình, các thể góc mở thường khó nhận biết nên thường bị bỏ qua đến giai đoạn rất muộn.
Bệnh glôcôm góc đóng thường có cơn cấp điển hình như: Bệnh khởi phát đột ngột buổi chiều tối, hoặc khi bệnh nhân đang cúi xuống đọc sách, hoặc sau những sang chấn tinh thần mạnh. Với biểu hiện mắt đột ngột đau nhức dữ dội từng cơn, lan lên nửa đầu cùng bên, bệnh nhân nhìn đèn thấy có quầng xanh đỏ như cầu vồng, thường buồn nôn hoặc nôn, đau bụng, vã mồ hôi, mắt đỏ lên và nhìn mờ ở nhiều mức độ, có thể chỉ mờ như nhìn qua màn sương nhưng cũng có thể giảm thị lực trầm trọng xuống còn đếm ngón tay hoặc bóng bàn tay. Trong một vài trường hợp  bệnh nhân thấy sợ ánh sáng, chảy nước mắt nhưng không tiết rử mắt, mi mắt sưng nề, mắt đỏ, giác mạc phù nề mờ đục.
Ngoài ra, có những trường hợp bị mắc bệnh glôcôm xuất hiện âm thầm, tiến triển chậm trong thời gian dài, nhiều  bệnh nhân không cảm thấy đau nhức mắt, một số trường hợp đôi khi thấy mắt căng tức nhẹ thoáng qua hoặc nhìn mờ như qua 1 màn sương rồi tự hết, những triệu chứng này thường không rõ ràng nên bệnh nhân ít để ý đến.
 Mắt bị glôcôm.
Phát hiện sớm tránh mù lòa
Do nguyên nhân, cơ chế bệnh vẫn còn chưa rõ ràng nên rất khó khăn trong công tác phòng bệnh. Tuy nhiên có thể phòng tránh được mù loà do glôcôm bằng cách phát hiện sớm, điều trị kịp thời và theo dõi thường xuyên. Vì vậy, khi có những triệu chứng nghi ngờ người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được khám mắt, đo nhãn áp và xử trí kịp thời. Đồng thời, cần khám mắt định kỳ 6 tháng/1 lần để phát hiện sớm bệnh glôcôm.
Với trường hợp đã được phát hiện và điều trị song bệnh nhân mắc bệnh glôcôm nhất thiết phải đi khám định kỳ, để các bác sĩ nhãn khoa tư vấn, theo dõi thường xuyên theo một quy trình chặt chẽ nhằm kiểm soát được diễn biến bệnh, hạn chế tối đa tổn hại về thực thể và chức năng thị giác.   
 
Thạc sĩ Đặng Thanh Xuân

Dùng thuốc trong thoái hóa hoàng điểm

Thoái hóa hoàng điểm (THHĐ) gây mất thị lực trung tâm làm cho người bệnh không nhận biết được màu, độ nét, độ rõ của hình ảnh, nặng hơn có thể gây mất thị lực hoàn toàn. Có thể dùng thuốc phòng và ổn định bệnh song người bệnh cần khám phát hiện bệnh sớm, khám định kỳ để xác định thời điểm dùng các liệu pháp thích hợp khác.
Hoàng điểm (điểm vàng) nằm ở vùng trung tâm võng mạc. Khi bị thoái hóa hoàng điểm, người bệnh có biểu hiện: có ám điểm ở vùng trung tâm (có thể thấy điểm mờ ở vùng trung tâm rồi rộng ra và tối hơn), hình ảnh nhìn thấy thường méo mó (không như vật thật); khó khăn trong nhìn gần, đọc; tăng nhạy cảm với ánh sáng. Có tới 82% người bệnh bỏ qua các biểu hiện đầu tiên, không biết mình có bệnh.
 
Đến giai đoạn sau mới thấy mờ như có “ruồi bay trước mắt” thì đã muộn. Nếu bị một mắt thì khoảng 50% sẽ bị mắt thứ hai trong 3-5 năm sau. Khi tình cờ phát hiện được thì phần lớn đã bị cả hai mắt. Có khoảng 2% người bệnh ở tuổi trên 50 trở lên diễn biến bệnh nặng dẫn đến mù. Thoái hóa hoàng điểm có dạng khô gọi là cườm khô (chiếm khoảng 90%) và dạng ướt gọi là cườm ướt (chỉ khoảng 10%) nhưng lại là nguyên nhân của 90% tình trạng mất thị lực nặng.
 
Nguyên nhân gây thoái hóa hoàng điểm chủ yếu do tuổi già. Ngoài ra, còn có thể do tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch, hút thuốc lá, dinh dưỡng kém (ăn không đủ zeaxanthin, lutein). Các thuốc sau được dùng trong điều trị thoái hóa hoàng điểm:
Zeaxanthin, lutein
Bình thường, võng mạc vốn có chất zeaxanthin, lutein nội sinh. Zeaxanthin chiếm ưu thế tại trung tâm hoàng điểm còn lutein chiếm ưu thế ở võng mạc ngoại vi. Chúng tác dụng như bộ lọc ánh sáng bước sóng ngắn, ngăn chặn hoặc làm hóa giải gốc tự do trong  biểu mô sắc tố võng mạc và màng mạch. Nhờ thế mà làm trì hoãn sự xuất  hiện và tiến triển của bệnh. Vào tuổi già thì zeaxanthin, lutein bị giảm sút nên bị thoái hóa hoàng điểm.
Dùng thuốc là đưa chất zeaxanthin, lutein chiết xuất từ tự nhiên vào làm nhiệm vụ thay cho chất nội sinh bị thiếu hụt. Cơ chế của thuốc là chống gốc tự do làm cho thoái hóa hoàng điểm chậm xuất hiện (phòng bệnh) hoặc  nếu đã xảy ra thì chậm tiến triển (ổn định bệnh). Có rất nhiều chất chống gốc tự do nhưng chỉ zeaxanthin, lutein mới là chất đặc hiệu dùng trong bệnh này. Theo nghiên cứu ở  Mỹ,  dùng hai chất này và kẽm làm giảm tới 25% sự  tiến triển và giảm tới 19% sự mất thị lực. Các sản phẩm thuốc có trên thị trường thường có chứa lutein, zeaxanthin, zinc. Ngoài ra còn bổ sung thêm các chất chống oxy hóa khác là vitamin C, vitmin  E; selenium. Thoái hóa hoàng điểm thường tiến triển trong một thời gian dài 10-20 năm nên việc dùng các thuốc này là rất cần thiết, có lợi, nhất là trong phòng bệnh.
Hạn chế của thuốc là không đảo ngược được quá trình, không chữa khỏi khi đã mắc bệnh, thuốc có tác dụng phòng và ổn định bệnh. Trong dạng cườm ướt, ở thời điểm thích hợp, thầy thuốc cho điều trị bằng phương pháp quang đông hay phẫu thuật dịch kính. Quang đông là dùng tia laser Argon phá hủy các vùng thiếu máu võng mạc, làm giảm sự tăng tân mạch hay thoái triển các mạch máu này, làm tăng tính thấm, giảm phù nề. Phẫu thuật dịch kính cho phép hút máu trong dịch kính, phẫu tích những tân mạch mới hình thành, gây đông những điểm mạch máu nuôi tân mạch.  Nếu chủ quan chỉ uống thuốc mà không khám xác định đúng dạng và thời điểm thích hợp để điều trị bằng các liệu pháp này thì bệnh sẽ tiến triển nặng hơn. Dùng các liệu pháp này đúng thời điểm sẽ có hiệu quả cao. 
Lucentis, avastin 
Đây là thuốc sinh học thế hệ mới. Trong thoái hóa hoàng điểm có sự hình thành tân mạch do yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF). Lucentis, avastin không cho VEGF bám vào các thụ thể nằm ở mặt ngoài các tế bào bao phủ các tân mạch nên ức chế sự sinh tân mạch và làm cho các mạch máu đã có từ trước hoạt động bình thường. Cơ chế tác dụng trên bệnh thoái hóa hoàng điểm giống như cơ chế điều trị ung thư (NEJM 5/2011). Khi dùng lucentis có 40% người bệnh cải thiện thị lực rất rõ trong khi các liệu pháp cũ chỉ đạt 6%. Lucentis được phép dùng từ năm 2007 (tiêm vào mắt) còn avastin tuy có các nghiên cứu xác nhận giống lucentis nhưng chưa được cấp phép dùng.
Hạn chế của thuốc: hiện chưa có các tài liệu đầy đủ về tác dụng phụ của dạng thuốc nhỏ mắt. Tuy nhiên, trong dạng dùng cho ung thư đã ghi nhận chúng có một số tác dụng phụ khá nghiêm trọng: gây táo bón, đau bụng, nôn, chảy máu đường tiêu hóa; gây cục máu đông, đau ngực, đột quỵ; tăng protein niệu, có thể dẫn đến hội chứng thận hư (1%); gây tăng huyết áp; gây các rối loạn thần kinh và tầm nhìn (đau đầu, động kinh, chậm chạp, lú lẫn, tăng nhãn áp, rối loạn thị lực làm cho mắt tệ hại hơn, mù mắt). Đây là điều đáng tham khảo.
Các nước tiên tiến dùng thuốc sinh học thế hệ mới vài chục năm nay. Nước ta nhập rất ít, mới dùng hạn chế ở tuyến trung ương. Không nên nghe nói tốt mà mua từ nước ngoài về tự điều trị hay nhờ tuyến dưới điều trị.
Người cao tuổi nên ăn các loại thức ăn chứa nhiều zeaxanthin, lutein có trong lòng đỏ  trứng, cải xoăn, củ cải xanh, rau bina, đậu Hà Lan, xà lách, bông cải xanh, ngô màu vàng, quả kiwi; cũng cần dùng thuốc phòng hay làm chậm tiến triển bệnh, song cần khám định kỳ xác định dạng và thời điểm cần phẫu thuật chứ không thể chủ quan dùng thuốc mãi. 

Glôcôm do... thuốc

Có một thực trạng hiện nay là người tự ý mua thuốc nhỏ mắt khá phổ biến. Nếu sử dụng những loại thuốc có thành phần corticosteroid kéo dài mà không có chỉ định của bác sĩ nhãn khoa sẽ dẫn đến những biến chứng khôn lường mà điển hình là bệnh glôcôm.
Từ lâu, các corticosteroid tổng hợp (cortisone) được sử dụng chống viêm trong cơ thể một cách hết sức hiệu quả. Trong nhãn khoa, thuốc được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh viêm kết giác mạc, viêm màng bồ đào, viêm thần kinh thị giác... Cũng chính tác dụng chống viêm rõ rệt của thuốc mà trong thời gian khá dài, cortisone dưới dạng tra, tiêm, uống được sản xuất và sử dụng tràn lan, phổ biến ở tất cả các tuyến y tế trong điều trị bệnh về mắt. Thậm chí, người dân có thể tự mua thuốc có chứa chế phẩm cortcosteroid để điều trị tại nhà.
 Tự ý dùng thuốc nhỏ mắt kéo dàidễ mắc bệnh glôcôm.
Bên cạnh tác dụng tích cực của thuốc thì tác dụng không mong muốn trong trường hợp thuốc được dùng kéo dài, không đúng chỉ định có thể gây ra những biến chứng toàn thân hoặc tại chỗ như loét giác mạc do nấm, do vi khuẩn, đục thể thủy tinh... Một trong những biến chứng nguy hiểm nhất tại mắt là tăng nhãn áp (glôcôm do corticosteroid) có thể dẫn tới mù lòa.
Trường hợp người bệnh sử dụng thuốc, các corticosteroid tổng hợp sẽ cạnh tranh với corticosteroid tuyến yên khiến việc sản xuất hydrolase bị ngừng trệ, các glycosaminoglycan không được giải phóng dẫn đến ứ trệ thủy dịch trong nhãn cầu gây tăng nhãn áp.
Sự ứ trệ thủy dịch trên bệnh nhân sử dụng corticosteroid diễn ra từ từ tăng dần nên tiến triển của glôcôm corticosteroid cũng âm thầm và hầu như không có triệu chứng ở giai đoạn đầu. Bệnh thường xảy ra trên mắt do sử dụng corticosteroid tra nhỏ mắt (polydexa, dexaclo,…) hay tiêm (hydrocortisone, dexamethasone,..), uống (prednisolon) kéo dài.
 
Phản ứng có thể xuất hiện khi bệnh nhân dùng thuốc liên tục khoảng 6 tuần, nhưng nhiều trường hợp bệnh tăng nhãn áp xuất hiện chỉ sau 2 tuần điều trị. Nhiều nghiên cứu cho thấy, glôcôm do corticosteroid thường xảy ra trên bệnh nhân nữ do bệnh nhân nữ dễ mắc các bệnh về mi, kết mạc và sử dụng thuốc nhiều hơn.
 
Bệnh thường được phát hiện tình cờ khi bệnh nhân đến khám các bệnh khác tại mắt nhưng đôi khi các triệu chứng cũng bị bỏ sót do biểu hiện không rõ ràng. Ở giai đoạn đầu, nếu ngừng ngay việc sử dụng corticosteroid, nhãn áp có thể điều chỉnh được về mức bình thường. Tuy nhiên, do tình trạng bán và sử dụng thuốc corticosteroid tràn lan nên bệnh glôcôm corticosteroid thường được phát hiện vào giai đoạn rất muộn.
 
Những bệnh nhân này thường đến khám khi bệnh xuất hiện đầy đủ các triệu chứng như các glôcôm khác như mất thị lực, mất thị trường vĩnh viễn, đau nhức mắt, nhức đầu dữ dội và nhãn áp tăng không thể tự điều chỉnh. Trong trường hợp này, bác sĩ nhãn khoa thường phải dùng tới thuốc hạ nhãn áp khá mạnh và đa số trường hợp phải phẫu thuật.
 
 Tăng nhãn áp trong bệnh lý glôcôm sẽ gây tổn thương thần kinh thị giác.
Kết quả của phẫu thuật điều trị glôcôm corticosteoid thường không cao nếu chỉ dùng phương pháp thông thường do bản thân thuốc corticosteroid dùng kéo dài gây kích thích tăng sinh xơ, sẹo làm bít đường thông thủy dịch mới được tạo thành.
 
Để khắc phục tình trạng tái phát này, người ta phối hợp phẫu thuật với các thuốc chống chuyển hóa (5fluoro-uracil, mitomicine C - các thuốc sử dụng trong điều trị ung thư) hoặc đặt các van dẫn lưu nhân tạo. Tuy nhiên, các phẫu thuật này cũng hết sức phức tạp và không phải trường hợp nào cũng thành công như mong muốn.
Vì vậy, việc sử dụng corticosteroid cần được thực hiện đúng chỉ định và được giám sát chặt chẽ. Đặc biệt, bệnh nhân cần được kiểm tra nhãn áp thường xuyên trong quá trình sử dụng thuốc để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra.         
  ThS.BS. Bùi Vân Anh

Ai nên phẫu thuật lasik chữa cận thị?

Lasik là phương pháp điều trị các tật về khúc xạ bằng tia laser. Phẫu thuật lasik tuyệt đối không gây đau cả trong và sau khi phẫu thuật. Về mặt lý thuyết, sau phẫu thuật lasik, bệnh nhân sẽ có sức nhìn tốt hơn. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là bệnh nhân sau phẫu thuật lasik thành công có thể thường xuyên đọc sách báo trong điều kiện thiếu ánh sáng, ngồi nhiều giờ liên tục trước máy vi tính... mà không phải lo lắng về nguy cơ mắc các tật khúc xạ và không phải ai cũng có thể mổ lasik chữa cận thị?
Phẫu thuật lasik là một cuộc cách mạng trong phẫu thuật khúc xạ vì tính chính xác và thị lực hồi phục nhanh sau phẫu thuật. Tuy nhiên, phẫu thuật lasik không phải dành cho tất cả bệnh nhân cận thị. Vì vậy, nếu bạn không muốn mang kính gọng thì có thể mang kính tiếp xúc khi tham gia một số hoạt động. Nếu vì ngành nghề đặc biệt không được mang kính gọng và kính tiếp xúc mới mổ lasik.
Khi bị cận thị, nên đến khám tại các bác sĩ chuyên khoa mắt
Với người trên 40 tuổi, khả năng điều tiết của mắt sẽ giảm theo thời gian, độ kính lão bạn đeo sẽ ngày càng tăng. Sự tăng này tùy theo sức khỏe và tình trạng mắt của mỗi người. Do vậy nếu một người cận nặng trên 40 tuổi mà đi mổ lasik sẽ bị tốn tiền hai lần (một lần cho phẫu thuật lasik và một lần cho phẫu thuật phaco sau này) mà độ chính xác của mắt sau mổ lại không cao. Vì vậy nếu cận trên 6 độ và trên 40 tuổi thì bệnh nhân nên chờ một thời gian nữa, khi có đục thủy tinh thể sẽ giải quyết cả cận thị và đục thủy tinh thể trong một phẫu thuật sẽ đạt độ chính xác cao.
Nếu bạn chỉ cận nhẹ 1-2 độ, không bị lệ thuộc kính thì không cần phải mổ, vì sau này khi 40 tuổi bị lão thị sẽ không cần đeo kính. Nếu cận trên 6 độ thì nên thận trọng theo dõi độ cận và luôn nhớ là chỉ mổ khi độ cận thật ổn định. Tỉ lệ bị cận tái phát sẽ cao hơn nhóm cận thị dưới 6 độ.
Theo các bác sĩ nhãn khoa, điều kiện để được phẫu thuật lasik là phải từ 18 tuổi trở lên, tốt nhất là chỉ mổ khi độ cận dưới 10 độ, tuổi dưới 40, độ loạn dưới 5 độ. Bên cạnh đó, người được phẫu thuật phải ổn định tật khúc xạ ít nhất trong vòng 6-12 tháng (trong 1 năm không tăng quá 0,75 độ), không có các bệnh cấp hoặc mạn tính tại mắt như: viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào, glôcôm, giác mạc hình nón..., không có bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến phẫu thuật. Phẫu thuật lasik không áp dụng cho phụ nữ có thai hoặc cho con bú.
Khi bị cận thị, nên đến khám tại các bác sĩ chuyên khoa mắt, khi được bác sĩ tư vấn không nên mổ thì đó là những lời khuyên tốt, nên tuân thủ. Bạn đừng quá kỳ vọng vào phương pháp mổ lasik và tìm nơi khác để "được mổ" thì hậu quả vô cùng tai hại vì đã có những trường hợp bị mù cả hai mắt sau phẫu thuật lasik chữa cận thị.        
ThS. Vũ Quốc Tuấn

Đau mắt ngày hè

(SKDS) –  Nước ta ở đới khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều. Có tới 6 tháng trời nóng, trong đó 3 tháng cực điểm là từ tháng 6 đến tháng 9. Trong thời gian này các bệnh về mắt cũng có dịp để thể hiện…
Viêm kết mạc mùa xuân

Để giúp bệnh nhân vượt qua mùa nóng an toàn phải là nghệ thuật phối hợp các thuốc trên cùng với nước mắt nhân tạo. Giải thích, giáo dục cho bệnh nhân và người nhà tự giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật cũng rất quan trọng. Đa phần các bệnh nhân sẽ giảm ngứa và ngừng day dụi nếu được chườm đá ngay trong cơn cộng với nhỏ nước mắt nhân tạo để trong ngăn mát tủ lạnh. Đội mũ rộng vành, kiêng nắng, kiêng nóng, đeo kính ngăn tia UV có gọng to ôm sát mặt sẽ giúp trẻ có thể chơi và học như những trẻ khác trong mùa hè.
Một bệnh lý mắt trong mùa nóng rất nhiều người biết và đáng ngại là viêm kết mạc mùa xuân. Nền nhiệt cao, đậm độ tia tử ngoại tăng vọt, nắng nhiều  khiến bệnh đang ổn định bỗng nặng lên. Rất nhiều các cháu thiếu niên (nam gặp nhiều hơn nữ) đến gặp chúng tôi trong những ngày hè vì căn bệnh này. Ngoài những biểu hiện lâm sàng đặc hiệu: nhú gai trên kết mạc sụn, thẩm lậu vùng rìa, ánh củng mạc mờ đục thì việc khai thác tiền sử sẽ giúp chúng tôi khẳng định chẩn đoán. Cơ địa dị ứng là đặc điểm rất quan trọng khi khai thác tiền sử bệnh. Hơn 80% các em sẽ than phiền về tiền sử hen xuyễn lúc còn nhỏ hoặc vẫn đang bị hen suyễn. Viêm mũi xoang dị ứng, viêm da cơ địa, dị ứng thức ăn cũng được coi là cơ địa dị ứng, mảnh đất màu mỡ để viêm kết mạc mùa xuân phát triển. Không cần những xét nghiệm đắt tiền trong labo, chỉ với câu hỏi cháu có bị ngứa hay không cộng với khám lâm sàng khiến ta có thể chẩn đoán chắc chắn tới 85%. Bệnh nhân viêm kết mạc mùa xuân khốn khổ vì ngứa, càng day dụi càng thích.
Một thể nặng của bệnh là viêm kết mạc quanh năm. Tính chất theo mùa xuân hè của bệnh đã không còn. Bệnh nhân bị ngứa quanh năm, tất nhiên dữ dội nhất là trong dịp hè. Trái ngược với những vất vả và khó chịu của bệnh nhân, vũ khí để chiến đấu với viêm kết mạc mùa xuân lại không có nhiều. Nhóm chống viêm có cortizol, hay gần đây là những thuốc điều hòa miễn dịch như cyclosporine A đã cho thấy tác dụng nhất thời của nó cũng như những biến chứng tiềm tàng rất nguy hiểm. Các thuốc bền màng dưỡng bào, kháng histamine H1, chống viêm không có cortizol phần lớn không làm bệnh nhân thỏa mãn.
 Sơ đồ cấu tạo mắt
Viêm kết mạc “bể bơi”
Mùa hè là mùa của tắm mát, của các môn thể thao dưới nước. Các loại viêm kết mạc liên quan đến tắm nắng, bơi lội có thể phát sinh. Tuy không nhiều nhưng cũng nên biết để tự xử lý hoặc đi khám bệnh. Tắm nắng thái quá, không mang kính bảo vệ, tắm nắng khi đậm độ tia UV đang rất cao từ 10h sáng đến 2h chiều có thể gây bỏng da mi, xung huyết kết mạc, tổn thương biểu mô giác mạc. May thay màu da, màu lông mi và lông mày người Việt Nam chúng ta có nhiều sắc tố, ngăn cản tốt tia UV xâm nhập vào mắt nên những tai nạn như trên còn chưa gặp nhiều.
Với các cư dân ở các đô thị lớn, đi bơi trong các bể bơi công cộng chắc chắn sẽ có người bị đau mắt đỏ. Vì sao vậy? Việc bơi lội làm tăng cơ hội lây nhiễm của một loại vi khuẩn có tên là Chlamydia cùng họ với vi khuẩn gây ra bệnh mắt hột. Vi khuẩn này có thể từ bộ phận sinh dục lây vào mắt hoặc từ mắt sang mắt. Các bác sĩ Pháp còn gọi bệnh là viêm kết mạc bể bơi hay viêm kết mạc thể vùi trên người lớn. Biểu hiện của bệnh này là mắt đỏ, ra gỉ nhiều, kết mạc có hột đặc hiệu, giác mạc có thể bị ảnh hưởng: viêm giác mạc chấm và thẩm lậu giác mạc vùng rìa, viêm dưới biểu mô và màng máu. Một chu kỳ bệnh diễn tiến từ 3 đến 12 tháng. Chính vì vậy bệnh nhân nên đi khám để lấy đơn thuốc điều trị đặc hiệu: kháng sinh họ macrolit đường uống, tra nhỏ mắt các thuốc có tetracycline, neomycine hay quinolone kiên trì trong 3 tháng.
Đau mắt đỏ
Không ai sống trên đời lại thoát khỏi một lần đau mắt đỏ hay còn gọi là đau mắt dịch. Đáng tiếc là sau khi bị bệnh ta không thu được miễn dịch vĩnh viễn như với sởi hay thủy đậu. Chính vì thế có người sẽ bị lần thứ 2 rồi thứ 3... Thủ phạm là virus nhóm Adeno, có 6 loại dưới nhóm từ A tới F với 47 type huyết thanh khác nhau. Biểu hiện bệnh do Adenovirus trên mắt khá đa dạng: viêm kết mạc có hột cấp, viêm kết giác mạc dịch tễ, viêm thanh quản- kết mạc có sốt và viêm kết giác mạc có hột mạn tính…
Đây là bệnh lý có tính toàn cầu, gây dịch, thường xảy ra vào mùa nóng. Bệnh lây lan dễ dàng do virus có tính kháng cồn, tồn tại trên các bề mặt dụng cụ gia đình và cả dụng cụ y tế  tới... 35 ngày. Biểu hiện chung là triệu chứng nhiễm virus: sốt nhẹ, ho, đau họng, nổi hạch. Sau đó là các triệu chứng tại mắt rầm rộ, rất khó chịu: đỏ mắt, ra gỉ, cộm rát. Với thể viêm kết- giác mạc các triệu chứng của viêm giác mạc sẽ xuất hiện từ ngày thứ 7 đến 14: viêm biểu mô lan tỏa, viêm dưới biểu mô dạng đốm, đám thẩm lậu dưới biểu mô.
 
Bệnh nhân sẽ có nhìn mờ, chảy nước mắt, sợ sáng khác hẳn với các thể lành tính khác: không có nhìn mờ, sợ sáng, kết thúc nhanh và êm dịu. Một dạng kết thúc khác làm cha mẹ các cháu nhỏ ghê sợ đó là viêm kèm theo giả mạc. Khi có giả mạc việc điều trị sẽ khó khăn hơn, nên cho trẻ bóc giả mạc trong bệnh viện, thường sau 10 ngày bệnh mới có xu hướng lui giảm và khỏi. Thể có viêm thanh quản sẽ kèm với triệu chứng toàn thân nặng hơn: sốt cao, mệt mỏi, đau cơ, nôn mửa. May thay biến chứng vào giác mạc ở thể này lại rất ít. Đau mắt đỏ có xuất huyết dưới kết mạc rộng lại do các virus khác tên là Coxakie A24 và enterovirus gây nên. Tuy lây lan mạnh, làm bệnh nhân lo sợ nhưng lại khỏi nhanh và không có biến chứng.
Dù cho là virus gì thì cách đối phó của chúng ta cũng ít thay đổi. Vệ sinh tay, mắt, chống lây lan là quan trọng nhất. Rửa mắt bằng nước muối hoặc nước mắt nhân tạo các loại khi có người xung quanh bị đau mắt đỏ. Có thể dùng kháng sinh và các thuốc có steroides nhưng phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa mắt. Đừng quên chính bệnh viện là môi trường phát tán dịch trong mùa dịch do tần xuất gặp gỡ người bệnh- người lành trong bệnh viện là rất rất cao. Chính vì vậy trong những ngày đỉnh dịch không nên đến bệnh viện khi không cần thiết, cũng nên tránh chỗ đông người như siêu thị, thang máy. Công tác vô trùng, vệ sinh trong bệnh viện cần được lưu tâm hơn trong mùa nóng.
BS. Hoàng Cương