About

This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

Cơ hội mới cho những người bị bệnh giác mạc

Lần đầu tiên tại Việt Nam, các bác sĩ Khoa Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương đã ứng dụng thành công kỹ thuật ghép giác mạc lớp cho ba bệnh nhân ghép lớp trước sâu và hai bệnh nhân ghép nội mô.
Cơ may cho những người bị bệnh giác mạc
Bệnh nhân (BN) Phương Công C., 43 tuổi, Ba Vì, Hà Nội bị loạn dưỡng giác mạc dạng Fuch. Đây là một bệnh lý giác mạc bẩm sinh. Mắt anh mỗi năm một mờ. Đã 10 năm nay (từ năm 2001) anh là BN thường xuyên đến khám và điều trị tại Bệnh viện Mắt Trung ương. Tuổi càng nhiều, bệnh càng nặng. Đầu năm 2010, anh C. gần như không còn nhìn thấy gì, thị lực chỉ đếm ngón tay trong vòng 2 mét. Tháng 12/2010, anh là người đầu tiên ở Việt Nam được các bác sĩ Khoa Kết giác mạc phẫu thuật ghép lớp sau (ghép nội mô) mắt phải.
BN Hoàng Thị T., 41 tuổi, Chương Mỹ, Hà Nội bị loạn dưỡng giác mạc dạng lưới, một bệnh giác mạc bẩm sinh di truyền. Cũng như anh C., càng có tuổi, mắt chị T. ngày một mờ và cuối cùng không còn nhìn thấy nữa. Đến khám ở Khoa Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương, chị T. chỉ đếm được ngón tay cách 3 mét. Ngày 14/7/2011, chị T. cũng may mắn là một trong những bệnh nhân đầu tiên ở Việt Nam được các bác sĩ Khoa Kết giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương phẫu thuật ghép giác mạc lớp trước sâu cho mắt trái.
 Ca phẫu thuật ghép giác mạc.
Hành trình ghép “mảnh sáng” cho những con mắt tối
TS.BS. Phạm Ngọc Đông -  Quyền Trưởng khoa Kết giác mạc, Giám đốc Ngân hàng mắt, Bệnh viện Mắt Trung ương - người trực tiếp thực hiện phẫu thuật ghép giác mạc cho hai BN trên cho biết: Những bệnh lý giác mạc như vậy không thể chữa được bằng thuốc, chỉ có ghép giác mạc mới cải thiện được thị lực cho BN. (BN bị coi là mù lòa khi thị lực ở mức không đếm được ngón tay cách xa 3 mét). BN Phương Công C. bị loạn dưỡng giác mạc Fuch, được điều trị ghép nội mô giác mạc, kết hợp với mổ lấy thể thủy tinh bằng phương pháp Phaco, đặt thể thủy tinh nhân tạo ngay trước khi ghép giác mạc. Một trong những thì phẫu thuật khó khăn nhất là đưa mảnh ghép vào trong tiền phòng. Mảnh ghép có thể bị tổn hại ngay trong thì này và phẫu thuật thất bại. Mảnh ghép là giác mạc có các tế bào nội mô và màng Descemet đã được Ngân hàng mắt cắt sẵn, với đường kính 8,5mm, được đưa vào tiền phòng qua đường rạch 5,5mm bằng chỉ 10-0. Mảnh ghép được áp chặt vào nền ghép bởi bóng khí trong tiền phòng, không cần khâu mảnh ghép vào nền ghép. Thị lực sau mổ phục hồi tốt, mảnh ghép trong suốt và chưa có đợt thải loại ghép nào trong thời gian 10 tháng theo dõi. Mảnh ghép áp tốt vào nền ghép. Thị lực không kính sau 10 tháng đạt 20/40 (5/10), khi chỉnh kính đạt 20/25.
Với BN Hoàng Thị T. bị loạn dưỡng giác mạc dạng lưới, được điều trị bằng phẫu thuật ghép giác mạc lớp trước sâu, sử dụng kỹ thuật bóng khí lớn. Phẫu thuật viên bơm 1 bóng khí vào nhu mô giác mạc để tách màng Descemet khỏi nhu mô. Phần nhu mô bệnh lý phía trên được cắt bỏ và thay thế bằng phần nhu mô của giác mạc lành (của người hiến).  Mảnh ghép trong suốt trở lại ngay những ngày đầu sau mổ. Độ dày giác mạc trở nên bình thường sau một tháng. Thị lực được cải thiện đáng kể ngay từ tháng thứ hai sau mổ (đạt 2/10 chưa chỉnh kính). Trong thời gian theo dõi mảnh ghép 2 tháng, chưa thấy dấu hiệu thải ghép.
Theo TS.BS. Phạm Ngọc Đông, ưu điểm vượt trội của kỹ thuật ghép lớp so với ghép xuyên là: nếu thực hiện phương pháp ghép giác mạc xuyên (là phẫu thuật ghép thay thế toàn bộ chiều dày giác mạc) sẽ phải mở nhãn cầu nên có thể có một số biến chứng trong mổ như xuất huyết tống khứ, tăng nhãn áp... Thời gian sống mảnh ghép giảm bị ảnh hưởng bởi phản ứng thải ghép do các dị nguyên ở biểu mô, nhu mô và nội mô. Hậu quả của thải ghép là làm chết tế bào nội mô, giác mạc trở nên mờ đục và gây giảm thị lực. Phương pháp ghép lớp (chỉ thay thế phần giác mạc bị bệnh) sẽ khắc phục được những nhược điểm của phẫu thuật ghép giác mạc xuyên mà vẫn đảm bảo lấy hết phần giác mạc bệnh lý. Thị lực sau mổ sẽ phục hồi nhanh hơn và lâu dài hơn so với phẫu thuật ghép xuyên.
Đem lại hướng điều trị mới trong nhãn khoa
Cũng theo TS.BS. Phạm Ngọc Đông, ghép giác mạc lớp là phẫu thuật khó, nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được trong điều kiện nước ta. Việc ứng dụng kỹ thuật ghép giác mạc lớp vào thực tế điều trị sẽ là một bước tiến mới, đem lại ánh sáng cho người mắc các bệnh lý giác mạc. Đây sẽ là một trong những vũ khí mới để các thầy thuốc nhãn khoa đem lại ánh sáng cho những người không may mắn bị mù lòa do bệnh lý giác mạc. Mong muốn nhân văn
Gặp BN Phương Công C. sau 10 tháng được ghép giác mạc, mắt phải của anh nhìn rất tốt, không đau, không chảy nước mắt. Hằng tháng, anh đến Bệnh viện Mắt Trung ương kiểm tra định kỳ. Anh tâm sự: “Tôi sung sướng khi thấy mỗi ngày mắt mình nhìn một rõ. Nếu mắt phải không được ghép giác mạc thì bây giờ tôi đã mù rồi vì mắt trái hiện nay ngày càng mờ hẳn. Thật không có gì quý giá hơn. Tôi biết ơn các bác sĩ đã cho tôi ánh sáng, biết ơn những người đã hiến tặng giác mạc để người bệnh như chúng tôi lại được nhìn thấy, không trở thành tàn phế. Là người may mắn được nhận giác mạc, tôi cũng sẽ vận động, thuyết phục trong gia đình, người thân nếu chẳng may sau này qua đời… thì cũng để lại được điều gì đấy tốt đẹp cho đời”.
 Ngân hàng Mắt đã đi vào hoạt động được 4 năm. Tuy nhiên, do số người hiến còn ít nên số lượng giác mạc thu nhận được hàng năm còn hạn chế. Ngân hàng Mắt, Bệnh viện Mắt Trung ương mong muốn được sự ủng hộ hơn nữa của toàn thể xã hội, của ngành y tế để mỗi năm, Ngân hàng Mắt có thêm nhiều giác mạc từ những người hiến tự nguyện, cung cấp cho các cơ sở nhãn khoa ghép cho người bệnh (hiện có rất nhiều bệnh nhân đang chờ được ghép giác mạc). Được như vậy, chúng ta sẽ có nguồn giác mạc dồi dào trong nước, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của người bệnh Việt Nam, vừa mang ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc - một đôi mắt khép lại có thể mang đến cơ hội hồi sinh ánh sáng cho những đôi mắt khác. 
Giác mạc là một màng mỏng, trong suốt, không có mạch máu; có 3 lớp giải phẫu chủ yếu đó là biểu mô, nhu mô và nội mô. Là nơi tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài, chính vì vậy nên giác mạc rất dễ bị tổn thương. Khi giác mạc bị biến dạng hoặc mờ đục, mắt sẽ bị giảm thị lực, thậm chí bị mù lòa. Với các trường hợp mù lòa do bệnh lý giác mạc, cách điều trị duy nhất để đem lại thị lực cho bệnh nhân là ghép giác mạc nhằm thay thế phần giác mạc bị bệnh bằng giác mạc lành. Nhờ phẫu thuật này mà bệnh nhân có thể nhìn lại được và trở lại cuộc sống sinh hoạt bình thường.
  Mai Linh

832 bệnh nhân được ghép giác mạc

BV Mắt TW vừa tổng kết dự án “Nâng cao năng lực điều trị các bệnh giác mạc bằng ghép giác mạc tại BV Mắt TW” do Tổ chức ORBIS tài trợ với kinh phí gần 500.000 USD trong thời gian từ tháng 1/2005 - 12/2010. Qua 6 năm hoạt động, dự án đã thu nhận được 850 giác mạc, trong đó có 185 giác mạc của 94 người Việt Nam hiến tặng; phẫu thuật ghép giác mạc cho 832 bệnh nhân. Dự án cũng đã tổ chức tập huấn về các kỹ thuật thu nhận giác mạc, ghép giác mạc cho các bác sĩ ở BV Mắt TW và các BV chuyên khoa Mắt ở một số địa phương; truyền thông về hiến tặng giác mạc cho hơn 50 triệu lượt người; tổ chức 7 đợt khám miễn phí cho 4.000 người dân và 4 đợt phẫu thuật từ thiện ở Ninh Bình và Hòa Bình (nơi có người hiến tặng giác mạc).
HH

Một giải pháp ngăn chặn mù lòa

Hiện nước ta có khoảng 6,5% người mù do bệnh glôcôm, là nguyên nhân gây mù lòa thứ 2 nhưng tỷ lệ phát hiện bệnh lại rất thấp. Nhiều người chỉ đến viện khi đã muộn, thị lực đã không thể cứu vãn được. Tỷ lệ glôcôm trong một số cộng đồng dân cư chiếm tới hơn 2%. Điều đáng lưu ý, có 94% người dân không hiểu rõ hoặc mơ hồ về căn bệnh này. Vậy, bệnh glôcôm có nguy hiểm không, phát hiện như thế nào? Bài viết sau đây giúp độc giả hiểu rõ hơn về căn bệnh này.
 
Bệnh glôcôm là gì?
Bệnh glôcôm hay còn được gọi là thiên đầu thống được dùng để gọi một nhóm bệnh có những đặc điểm chung là nhãn áp tăng quá mức chịu đựng của mắt bình thường. Đây là một bệnh nguy hiểm của mắt, thường gây đau nhức và mất thị lực vĩnh viễn không thể hồi phục.
Bệnh glôcôm được chia làm 2 thể, thể glôcôm góc đóng (hay gặp hơn ở châu Á do mắt nhỏ, tiền phòng nông là điều kiện cho glôcôm góc đóng xuất hiện và glôcôm góc mở (gặp phổ biến hơn ở các nước châu Âu và châu Mỹ).
 Thị lực bình thường.
Ai dễ mắc?
Những người trên 35 tuổi, tuổi càng cao có nguy cơ mắc bệnh glôcôm càng lớn; Những người ruột thịt của bệnh nhân glôcôm; Bệnh nhân có tiền sử dùng corticoid kéo dài, có thể dùng corticoid tra mắt hoặc toàn thân; Những bệnh nhân có bệnh toàn thân như: đái tháo đường, cao huyết áp. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác gây bệnh glôcôm có thể gặp ở mọi lứa tuổi như chấn thương, sau viêm màng bồ đào, sử dụng các thuốc tra có chứa corticoid kéo dài…
Theo kết quả nghiên cứu của Bệnh viện Mắt TW, bệnh nhân bị glôcôm góc mở, có tiền sử tra corticoid tại mắt kéo dài chiếm 31,7%, trong đó số người trong lứa tuổi lao động (25-59) và người nghèo chiếm 63,1%. Đây là điều đáng báo động về vấn đề lạm dụng và tự ý sử dụng thuốc nhỏ mắt trong cộng đồng.
Cách nhận biết
Bệnh glôcôm có nhiều thể bệnh và nhiều nguyên nhân khác nhau do vậy triệu chứng biểu hiện cũng rất khác nhau tùy thể loại bệnh. Các thể bệnh góc đóng biểu hiện thường cấp tính với các triệu chứng rất điển hình, các thể góc mở thường khó nhận biết nên thường bị bỏ qua đến giai đoạn rất muộn.
Bệnh glôcôm góc đóng thường có cơn cấp điển hình như: Bệnh khởi phát đột ngột buổi chiều tối, hoặc khi bệnh nhân đang cúi xuống đọc sách, hoặc sau những sang chấn tinh thần mạnh. Với biểu hiện mắt đột ngột đau nhức dữ dội từng cơn, lan lên nửa đầu cùng bên, bệnh nhân nhìn đèn thấy có quầng xanh đỏ như cầu vồng, thường buồn nôn hoặc nôn, đau bụng, vã mồ hôi, mắt đỏ lên và nhìn mờ ở nhiều mức độ, có thể chỉ mờ như nhìn qua màn sương nhưng cũng có thể giảm thị lực trầm trọng xuống còn đếm ngón tay hoặc bóng bàn tay. Trong một vài trường hợp  bệnh nhân thấy sợ ánh sáng, chảy nước mắt nhưng không tiết rử mắt, mi mắt sưng nề, mắt đỏ, giác mạc phù nề mờ đục.
Ngoài ra, có những trường hợp bị mắc bệnh glôcôm xuất hiện âm thầm, tiến triển chậm trong thời gian dài, nhiều  bệnh nhân không cảm thấy đau nhức mắt, một số trường hợp đôi khi thấy mắt căng tức nhẹ thoáng qua hoặc nhìn mờ như qua 1 màn sương rồi tự hết, những triệu chứng này thường không rõ ràng nên bệnh nhân ít để ý đến.
 Mắt bị glôcôm.
Phát hiện sớm tránh mù lòa
Do nguyên nhân, cơ chế bệnh vẫn còn chưa rõ ràng nên rất khó khăn trong công tác phòng bệnh. Tuy nhiên có thể phòng tránh được mù loà do glôcôm bằng cách phát hiện sớm, điều trị kịp thời và theo dõi thường xuyên. Vì vậy, khi có những triệu chứng nghi ngờ người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được khám mắt, đo nhãn áp và xử trí kịp thời. Đồng thời, cần khám mắt định kỳ 6 tháng/1 lần để phát hiện sớm bệnh glôcôm.
Với trường hợp đã được phát hiện và điều trị song bệnh nhân mắc bệnh glôcôm nhất thiết phải đi khám định kỳ, để các bác sĩ nhãn khoa tư vấn, theo dõi thường xuyên theo một quy trình chặt chẽ nhằm kiểm soát được diễn biến bệnh, hạn chế tối đa tổn hại về thực thể và chức năng thị giác.   
 
Thạc sĩ Đặng Thanh Xuân

Dùng thuốc trong thoái hóa hoàng điểm

Thoái hóa hoàng điểm (THHĐ) gây mất thị lực trung tâm làm cho người bệnh không nhận biết được màu, độ nét, độ rõ của hình ảnh, nặng hơn có thể gây mất thị lực hoàn toàn. Có thể dùng thuốc phòng và ổn định bệnh song người bệnh cần khám phát hiện bệnh sớm, khám định kỳ để xác định thời điểm dùng các liệu pháp thích hợp khác.
Hoàng điểm (điểm vàng) nằm ở vùng trung tâm võng mạc. Khi bị thoái hóa hoàng điểm, người bệnh có biểu hiện: có ám điểm ở vùng trung tâm (có thể thấy điểm mờ ở vùng trung tâm rồi rộng ra và tối hơn), hình ảnh nhìn thấy thường méo mó (không như vật thật); khó khăn trong nhìn gần, đọc; tăng nhạy cảm với ánh sáng. Có tới 82% người bệnh bỏ qua các biểu hiện đầu tiên, không biết mình có bệnh.
 
Đến giai đoạn sau mới thấy mờ như có “ruồi bay trước mắt” thì đã muộn. Nếu bị một mắt thì khoảng 50% sẽ bị mắt thứ hai trong 3-5 năm sau. Khi tình cờ phát hiện được thì phần lớn đã bị cả hai mắt. Có khoảng 2% người bệnh ở tuổi trên 50 trở lên diễn biến bệnh nặng dẫn đến mù. Thoái hóa hoàng điểm có dạng khô gọi là cườm khô (chiếm khoảng 90%) và dạng ướt gọi là cườm ướt (chỉ khoảng 10%) nhưng lại là nguyên nhân của 90% tình trạng mất thị lực nặng.
 
Nguyên nhân gây thoái hóa hoàng điểm chủ yếu do tuổi già. Ngoài ra, còn có thể do tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch, hút thuốc lá, dinh dưỡng kém (ăn không đủ zeaxanthin, lutein). Các thuốc sau được dùng trong điều trị thoái hóa hoàng điểm:
Zeaxanthin, lutein
Bình thường, võng mạc vốn có chất zeaxanthin, lutein nội sinh. Zeaxanthin chiếm ưu thế tại trung tâm hoàng điểm còn lutein chiếm ưu thế ở võng mạc ngoại vi. Chúng tác dụng như bộ lọc ánh sáng bước sóng ngắn, ngăn chặn hoặc làm hóa giải gốc tự do trong  biểu mô sắc tố võng mạc và màng mạch. Nhờ thế mà làm trì hoãn sự xuất  hiện và tiến triển của bệnh. Vào tuổi già thì zeaxanthin, lutein bị giảm sút nên bị thoái hóa hoàng điểm.
Dùng thuốc là đưa chất zeaxanthin, lutein chiết xuất từ tự nhiên vào làm nhiệm vụ thay cho chất nội sinh bị thiếu hụt. Cơ chế của thuốc là chống gốc tự do làm cho thoái hóa hoàng điểm chậm xuất hiện (phòng bệnh) hoặc  nếu đã xảy ra thì chậm tiến triển (ổn định bệnh). Có rất nhiều chất chống gốc tự do nhưng chỉ zeaxanthin, lutein mới là chất đặc hiệu dùng trong bệnh này. Theo nghiên cứu ở  Mỹ,  dùng hai chất này và kẽm làm giảm tới 25% sự  tiến triển và giảm tới 19% sự mất thị lực. Các sản phẩm thuốc có trên thị trường thường có chứa lutein, zeaxanthin, zinc. Ngoài ra còn bổ sung thêm các chất chống oxy hóa khác là vitamin C, vitmin  E; selenium. Thoái hóa hoàng điểm thường tiến triển trong một thời gian dài 10-20 năm nên việc dùng các thuốc này là rất cần thiết, có lợi, nhất là trong phòng bệnh.
Hạn chế của thuốc là không đảo ngược được quá trình, không chữa khỏi khi đã mắc bệnh, thuốc có tác dụng phòng và ổn định bệnh. Trong dạng cườm ướt, ở thời điểm thích hợp, thầy thuốc cho điều trị bằng phương pháp quang đông hay phẫu thuật dịch kính. Quang đông là dùng tia laser Argon phá hủy các vùng thiếu máu võng mạc, làm giảm sự tăng tân mạch hay thoái triển các mạch máu này, làm tăng tính thấm, giảm phù nề. Phẫu thuật dịch kính cho phép hút máu trong dịch kính, phẫu tích những tân mạch mới hình thành, gây đông những điểm mạch máu nuôi tân mạch.  Nếu chủ quan chỉ uống thuốc mà không khám xác định đúng dạng và thời điểm thích hợp để điều trị bằng các liệu pháp này thì bệnh sẽ tiến triển nặng hơn. Dùng các liệu pháp này đúng thời điểm sẽ có hiệu quả cao. 
Lucentis, avastin 
Đây là thuốc sinh học thế hệ mới. Trong thoái hóa hoàng điểm có sự hình thành tân mạch do yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF). Lucentis, avastin không cho VEGF bám vào các thụ thể nằm ở mặt ngoài các tế bào bao phủ các tân mạch nên ức chế sự sinh tân mạch và làm cho các mạch máu đã có từ trước hoạt động bình thường. Cơ chế tác dụng trên bệnh thoái hóa hoàng điểm giống như cơ chế điều trị ung thư (NEJM 5/2011). Khi dùng lucentis có 40% người bệnh cải thiện thị lực rất rõ trong khi các liệu pháp cũ chỉ đạt 6%. Lucentis được phép dùng từ năm 2007 (tiêm vào mắt) còn avastin tuy có các nghiên cứu xác nhận giống lucentis nhưng chưa được cấp phép dùng.
Hạn chế của thuốc: hiện chưa có các tài liệu đầy đủ về tác dụng phụ của dạng thuốc nhỏ mắt. Tuy nhiên, trong dạng dùng cho ung thư đã ghi nhận chúng có một số tác dụng phụ khá nghiêm trọng: gây táo bón, đau bụng, nôn, chảy máu đường tiêu hóa; gây cục máu đông, đau ngực, đột quỵ; tăng protein niệu, có thể dẫn đến hội chứng thận hư (1%); gây tăng huyết áp; gây các rối loạn thần kinh và tầm nhìn (đau đầu, động kinh, chậm chạp, lú lẫn, tăng nhãn áp, rối loạn thị lực làm cho mắt tệ hại hơn, mù mắt). Đây là điều đáng tham khảo.
Các nước tiên tiến dùng thuốc sinh học thế hệ mới vài chục năm nay. Nước ta nhập rất ít, mới dùng hạn chế ở tuyến trung ương. Không nên nghe nói tốt mà mua từ nước ngoài về tự điều trị hay nhờ tuyến dưới điều trị.
Người cao tuổi nên ăn các loại thức ăn chứa nhiều zeaxanthin, lutein có trong lòng đỏ  trứng, cải xoăn, củ cải xanh, rau bina, đậu Hà Lan, xà lách, bông cải xanh, ngô màu vàng, quả kiwi; cũng cần dùng thuốc phòng hay làm chậm tiến triển bệnh, song cần khám định kỳ xác định dạng và thời điểm cần phẫu thuật chứ không thể chủ quan dùng thuốc mãi. 

Glôcôm do... thuốc

Có một thực trạng hiện nay là người tự ý mua thuốc nhỏ mắt khá phổ biến. Nếu sử dụng những loại thuốc có thành phần corticosteroid kéo dài mà không có chỉ định của bác sĩ nhãn khoa sẽ dẫn đến những biến chứng khôn lường mà điển hình là bệnh glôcôm.
Từ lâu, các corticosteroid tổng hợp (cortisone) được sử dụng chống viêm trong cơ thể một cách hết sức hiệu quả. Trong nhãn khoa, thuốc được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh viêm kết giác mạc, viêm màng bồ đào, viêm thần kinh thị giác... Cũng chính tác dụng chống viêm rõ rệt của thuốc mà trong thời gian khá dài, cortisone dưới dạng tra, tiêm, uống được sản xuất và sử dụng tràn lan, phổ biến ở tất cả các tuyến y tế trong điều trị bệnh về mắt. Thậm chí, người dân có thể tự mua thuốc có chứa chế phẩm cortcosteroid để điều trị tại nhà.
 Tự ý dùng thuốc nhỏ mắt kéo dàidễ mắc bệnh glôcôm.
Bên cạnh tác dụng tích cực của thuốc thì tác dụng không mong muốn trong trường hợp thuốc được dùng kéo dài, không đúng chỉ định có thể gây ra những biến chứng toàn thân hoặc tại chỗ như loét giác mạc do nấm, do vi khuẩn, đục thể thủy tinh... Một trong những biến chứng nguy hiểm nhất tại mắt là tăng nhãn áp (glôcôm do corticosteroid) có thể dẫn tới mù lòa.
Trường hợp người bệnh sử dụng thuốc, các corticosteroid tổng hợp sẽ cạnh tranh với corticosteroid tuyến yên khiến việc sản xuất hydrolase bị ngừng trệ, các glycosaminoglycan không được giải phóng dẫn đến ứ trệ thủy dịch trong nhãn cầu gây tăng nhãn áp.
Sự ứ trệ thủy dịch trên bệnh nhân sử dụng corticosteroid diễn ra từ từ tăng dần nên tiến triển của glôcôm corticosteroid cũng âm thầm và hầu như không có triệu chứng ở giai đoạn đầu. Bệnh thường xảy ra trên mắt do sử dụng corticosteroid tra nhỏ mắt (polydexa, dexaclo,…) hay tiêm (hydrocortisone, dexamethasone,..), uống (prednisolon) kéo dài.
 
Phản ứng có thể xuất hiện khi bệnh nhân dùng thuốc liên tục khoảng 6 tuần, nhưng nhiều trường hợp bệnh tăng nhãn áp xuất hiện chỉ sau 2 tuần điều trị. Nhiều nghiên cứu cho thấy, glôcôm do corticosteroid thường xảy ra trên bệnh nhân nữ do bệnh nhân nữ dễ mắc các bệnh về mi, kết mạc và sử dụng thuốc nhiều hơn.
 
Bệnh thường được phát hiện tình cờ khi bệnh nhân đến khám các bệnh khác tại mắt nhưng đôi khi các triệu chứng cũng bị bỏ sót do biểu hiện không rõ ràng. Ở giai đoạn đầu, nếu ngừng ngay việc sử dụng corticosteroid, nhãn áp có thể điều chỉnh được về mức bình thường. Tuy nhiên, do tình trạng bán và sử dụng thuốc corticosteroid tràn lan nên bệnh glôcôm corticosteroid thường được phát hiện vào giai đoạn rất muộn.
 
Những bệnh nhân này thường đến khám khi bệnh xuất hiện đầy đủ các triệu chứng như các glôcôm khác như mất thị lực, mất thị trường vĩnh viễn, đau nhức mắt, nhức đầu dữ dội và nhãn áp tăng không thể tự điều chỉnh. Trong trường hợp này, bác sĩ nhãn khoa thường phải dùng tới thuốc hạ nhãn áp khá mạnh và đa số trường hợp phải phẫu thuật.
 
 Tăng nhãn áp trong bệnh lý glôcôm sẽ gây tổn thương thần kinh thị giác.
Kết quả của phẫu thuật điều trị glôcôm corticosteoid thường không cao nếu chỉ dùng phương pháp thông thường do bản thân thuốc corticosteroid dùng kéo dài gây kích thích tăng sinh xơ, sẹo làm bít đường thông thủy dịch mới được tạo thành.
 
Để khắc phục tình trạng tái phát này, người ta phối hợp phẫu thuật với các thuốc chống chuyển hóa (5fluoro-uracil, mitomicine C - các thuốc sử dụng trong điều trị ung thư) hoặc đặt các van dẫn lưu nhân tạo. Tuy nhiên, các phẫu thuật này cũng hết sức phức tạp và không phải trường hợp nào cũng thành công như mong muốn.
Vì vậy, việc sử dụng corticosteroid cần được thực hiện đúng chỉ định và được giám sát chặt chẽ. Đặc biệt, bệnh nhân cần được kiểm tra nhãn áp thường xuyên trong quá trình sử dụng thuốc để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra.         
  ThS.BS. Bùi Vân Anh

Ai nên phẫu thuật lasik chữa cận thị?

Lasik là phương pháp điều trị các tật về khúc xạ bằng tia laser. Phẫu thuật lasik tuyệt đối không gây đau cả trong và sau khi phẫu thuật. Về mặt lý thuyết, sau phẫu thuật lasik, bệnh nhân sẽ có sức nhìn tốt hơn. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là bệnh nhân sau phẫu thuật lasik thành công có thể thường xuyên đọc sách báo trong điều kiện thiếu ánh sáng, ngồi nhiều giờ liên tục trước máy vi tính... mà không phải lo lắng về nguy cơ mắc các tật khúc xạ và không phải ai cũng có thể mổ lasik chữa cận thị?
Phẫu thuật lasik là một cuộc cách mạng trong phẫu thuật khúc xạ vì tính chính xác và thị lực hồi phục nhanh sau phẫu thuật. Tuy nhiên, phẫu thuật lasik không phải dành cho tất cả bệnh nhân cận thị. Vì vậy, nếu bạn không muốn mang kính gọng thì có thể mang kính tiếp xúc khi tham gia một số hoạt động. Nếu vì ngành nghề đặc biệt không được mang kính gọng và kính tiếp xúc mới mổ lasik.
Khi bị cận thị, nên đến khám tại các bác sĩ chuyên khoa mắt
Với người trên 40 tuổi, khả năng điều tiết của mắt sẽ giảm theo thời gian, độ kính lão bạn đeo sẽ ngày càng tăng. Sự tăng này tùy theo sức khỏe và tình trạng mắt của mỗi người. Do vậy nếu một người cận nặng trên 40 tuổi mà đi mổ lasik sẽ bị tốn tiền hai lần (một lần cho phẫu thuật lasik và một lần cho phẫu thuật phaco sau này) mà độ chính xác của mắt sau mổ lại không cao. Vì vậy nếu cận trên 6 độ và trên 40 tuổi thì bệnh nhân nên chờ một thời gian nữa, khi có đục thủy tinh thể sẽ giải quyết cả cận thị và đục thủy tinh thể trong một phẫu thuật sẽ đạt độ chính xác cao.
Nếu bạn chỉ cận nhẹ 1-2 độ, không bị lệ thuộc kính thì không cần phải mổ, vì sau này khi 40 tuổi bị lão thị sẽ không cần đeo kính. Nếu cận trên 6 độ thì nên thận trọng theo dõi độ cận và luôn nhớ là chỉ mổ khi độ cận thật ổn định. Tỉ lệ bị cận tái phát sẽ cao hơn nhóm cận thị dưới 6 độ.
Theo các bác sĩ nhãn khoa, điều kiện để được phẫu thuật lasik là phải từ 18 tuổi trở lên, tốt nhất là chỉ mổ khi độ cận dưới 10 độ, tuổi dưới 40, độ loạn dưới 5 độ. Bên cạnh đó, người được phẫu thuật phải ổn định tật khúc xạ ít nhất trong vòng 6-12 tháng (trong 1 năm không tăng quá 0,75 độ), không có các bệnh cấp hoặc mạn tính tại mắt như: viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào, glôcôm, giác mạc hình nón..., không có bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến phẫu thuật. Phẫu thuật lasik không áp dụng cho phụ nữ có thai hoặc cho con bú.
Khi bị cận thị, nên đến khám tại các bác sĩ chuyên khoa mắt, khi được bác sĩ tư vấn không nên mổ thì đó là những lời khuyên tốt, nên tuân thủ. Bạn đừng quá kỳ vọng vào phương pháp mổ lasik và tìm nơi khác để "được mổ" thì hậu quả vô cùng tai hại vì đã có những trường hợp bị mù cả hai mắt sau phẫu thuật lasik chữa cận thị.        
ThS. Vũ Quốc Tuấn

Đau mắt ngày hè

(SKDS) –  Nước ta ở đới khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều. Có tới 6 tháng trời nóng, trong đó 3 tháng cực điểm là từ tháng 6 đến tháng 9. Trong thời gian này các bệnh về mắt cũng có dịp để thể hiện…
Viêm kết mạc mùa xuân

Để giúp bệnh nhân vượt qua mùa nóng an toàn phải là nghệ thuật phối hợp các thuốc trên cùng với nước mắt nhân tạo. Giải thích, giáo dục cho bệnh nhân và người nhà tự giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật cũng rất quan trọng. Đa phần các bệnh nhân sẽ giảm ngứa và ngừng day dụi nếu được chườm đá ngay trong cơn cộng với nhỏ nước mắt nhân tạo để trong ngăn mát tủ lạnh. Đội mũ rộng vành, kiêng nắng, kiêng nóng, đeo kính ngăn tia UV có gọng to ôm sát mặt sẽ giúp trẻ có thể chơi và học như những trẻ khác trong mùa hè.
Một bệnh lý mắt trong mùa nóng rất nhiều người biết và đáng ngại là viêm kết mạc mùa xuân. Nền nhiệt cao, đậm độ tia tử ngoại tăng vọt, nắng nhiều  khiến bệnh đang ổn định bỗng nặng lên. Rất nhiều các cháu thiếu niên (nam gặp nhiều hơn nữ) đến gặp chúng tôi trong những ngày hè vì căn bệnh này. Ngoài những biểu hiện lâm sàng đặc hiệu: nhú gai trên kết mạc sụn, thẩm lậu vùng rìa, ánh củng mạc mờ đục thì việc khai thác tiền sử sẽ giúp chúng tôi khẳng định chẩn đoán. Cơ địa dị ứng là đặc điểm rất quan trọng khi khai thác tiền sử bệnh. Hơn 80% các em sẽ than phiền về tiền sử hen xuyễn lúc còn nhỏ hoặc vẫn đang bị hen suyễn. Viêm mũi xoang dị ứng, viêm da cơ địa, dị ứng thức ăn cũng được coi là cơ địa dị ứng, mảnh đất màu mỡ để viêm kết mạc mùa xuân phát triển. Không cần những xét nghiệm đắt tiền trong labo, chỉ với câu hỏi cháu có bị ngứa hay không cộng với khám lâm sàng khiến ta có thể chẩn đoán chắc chắn tới 85%. Bệnh nhân viêm kết mạc mùa xuân khốn khổ vì ngứa, càng day dụi càng thích.
Một thể nặng của bệnh là viêm kết mạc quanh năm. Tính chất theo mùa xuân hè của bệnh đã không còn. Bệnh nhân bị ngứa quanh năm, tất nhiên dữ dội nhất là trong dịp hè. Trái ngược với những vất vả và khó chịu của bệnh nhân, vũ khí để chiến đấu với viêm kết mạc mùa xuân lại không có nhiều. Nhóm chống viêm có cortizol, hay gần đây là những thuốc điều hòa miễn dịch như cyclosporine A đã cho thấy tác dụng nhất thời của nó cũng như những biến chứng tiềm tàng rất nguy hiểm. Các thuốc bền màng dưỡng bào, kháng histamine H1, chống viêm không có cortizol phần lớn không làm bệnh nhân thỏa mãn.
 Sơ đồ cấu tạo mắt
Viêm kết mạc “bể bơi”
Mùa hè là mùa của tắm mát, của các môn thể thao dưới nước. Các loại viêm kết mạc liên quan đến tắm nắng, bơi lội có thể phát sinh. Tuy không nhiều nhưng cũng nên biết để tự xử lý hoặc đi khám bệnh. Tắm nắng thái quá, không mang kính bảo vệ, tắm nắng khi đậm độ tia UV đang rất cao từ 10h sáng đến 2h chiều có thể gây bỏng da mi, xung huyết kết mạc, tổn thương biểu mô giác mạc. May thay màu da, màu lông mi và lông mày người Việt Nam chúng ta có nhiều sắc tố, ngăn cản tốt tia UV xâm nhập vào mắt nên những tai nạn như trên còn chưa gặp nhiều.
Với các cư dân ở các đô thị lớn, đi bơi trong các bể bơi công cộng chắc chắn sẽ có người bị đau mắt đỏ. Vì sao vậy? Việc bơi lội làm tăng cơ hội lây nhiễm của một loại vi khuẩn có tên là Chlamydia cùng họ với vi khuẩn gây ra bệnh mắt hột. Vi khuẩn này có thể từ bộ phận sinh dục lây vào mắt hoặc từ mắt sang mắt. Các bác sĩ Pháp còn gọi bệnh là viêm kết mạc bể bơi hay viêm kết mạc thể vùi trên người lớn. Biểu hiện của bệnh này là mắt đỏ, ra gỉ nhiều, kết mạc có hột đặc hiệu, giác mạc có thể bị ảnh hưởng: viêm giác mạc chấm và thẩm lậu giác mạc vùng rìa, viêm dưới biểu mô và màng máu. Một chu kỳ bệnh diễn tiến từ 3 đến 12 tháng. Chính vì vậy bệnh nhân nên đi khám để lấy đơn thuốc điều trị đặc hiệu: kháng sinh họ macrolit đường uống, tra nhỏ mắt các thuốc có tetracycline, neomycine hay quinolone kiên trì trong 3 tháng.
Đau mắt đỏ
Không ai sống trên đời lại thoát khỏi một lần đau mắt đỏ hay còn gọi là đau mắt dịch. Đáng tiếc là sau khi bị bệnh ta không thu được miễn dịch vĩnh viễn như với sởi hay thủy đậu. Chính vì thế có người sẽ bị lần thứ 2 rồi thứ 3... Thủ phạm là virus nhóm Adeno, có 6 loại dưới nhóm từ A tới F với 47 type huyết thanh khác nhau. Biểu hiện bệnh do Adenovirus trên mắt khá đa dạng: viêm kết mạc có hột cấp, viêm kết giác mạc dịch tễ, viêm thanh quản- kết mạc có sốt và viêm kết giác mạc có hột mạn tính…
Đây là bệnh lý có tính toàn cầu, gây dịch, thường xảy ra vào mùa nóng. Bệnh lây lan dễ dàng do virus có tính kháng cồn, tồn tại trên các bề mặt dụng cụ gia đình và cả dụng cụ y tế  tới... 35 ngày. Biểu hiện chung là triệu chứng nhiễm virus: sốt nhẹ, ho, đau họng, nổi hạch. Sau đó là các triệu chứng tại mắt rầm rộ, rất khó chịu: đỏ mắt, ra gỉ, cộm rát. Với thể viêm kết- giác mạc các triệu chứng của viêm giác mạc sẽ xuất hiện từ ngày thứ 7 đến 14: viêm biểu mô lan tỏa, viêm dưới biểu mô dạng đốm, đám thẩm lậu dưới biểu mô.
 
Bệnh nhân sẽ có nhìn mờ, chảy nước mắt, sợ sáng khác hẳn với các thể lành tính khác: không có nhìn mờ, sợ sáng, kết thúc nhanh và êm dịu. Một dạng kết thúc khác làm cha mẹ các cháu nhỏ ghê sợ đó là viêm kèm theo giả mạc. Khi có giả mạc việc điều trị sẽ khó khăn hơn, nên cho trẻ bóc giả mạc trong bệnh viện, thường sau 10 ngày bệnh mới có xu hướng lui giảm và khỏi. Thể có viêm thanh quản sẽ kèm với triệu chứng toàn thân nặng hơn: sốt cao, mệt mỏi, đau cơ, nôn mửa. May thay biến chứng vào giác mạc ở thể này lại rất ít. Đau mắt đỏ có xuất huyết dưới kết mạc rộng lại do các virus khác tên là Coxakie A24 và enterovirus gây nên. Tuy lây lan mạnh, làm bệnh nhân lo sợ nhưng lại khỏi nhanh và không có biến chứng.
Dù cho là virus gì thì cách đối phó của chúng ta cũng ít thay đổi. Vệ sinh tay, mắt, chống lây lan là quan trọng nhất. Rửa mắt bằng nước muối hoặc nước mắt nhân tạo các loại khi có người xung quanh bị đau mắt đỏ. Có thể dùng kháng sinh và các thuốc có steroides nhưng phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa mắt. Đừng quên chính bệnh viện là môi trường phát tán dịch trong mùa dịch do tần xuất gặp gỡ người bệnh- người lành trong bệnh viện là rất rất cao. Chính vì vậy trong những ngày đỉnh dịch không nên đến bệnh viện khi không cần thiết, cũng nên tránh chỗ đông người như siêu thị, thang máy. Công tác vô trùng, vệ sinh trong bệnh viện cần được lưu tâm hơn trong mùa nóng.
BS. Hoàng Cương

Cách ngừa cận thị ở tuổi học đường

Tại sao con mắt bỗng dưng trở thành cận thị. Cận thị tại sao lại xảy ra với người này mà lại không xảy ra với người kia. Để trả lời câu hỏi này người ta đã cố gắng tìm hiểu những con mắt thế nào sẽ chắc chắn bị cận thị? Đáng tiếc là cho đến nay vẫn chưa có lời giải thỏa đáng. Chắc chắn cận thị có yếu tố di truyền (do gen quy định) thế nhưng những yếu tố địa lý, xã hội, môi trường sống, chủng tộc, dinh dưỡng... cũng vai trò của nó và đan xen phức tạp.
Các hãng kính thuốc, máy móc phẫu thuật, dược phẩm đã thu được hàng tỷ tỷ đô-la rồi. Chúng ta hãy cùng nhau dốc sức nghiên cứu và thực hiện phòng bệnh ngay từ bây giờ. Với quan điểm đó, tôi xin mạnh dạn đưa ra những quan điểm phòng bệnh mới nhất đối với cận thị.
Hãy giữ khoảng cách làm việc bằng cách xa nhất có thể
Quan điểm này đã có gần 200 năm nay. Làm việc bằng mắt ở cự ly gần, cường độ cao sẽ là nguyên nhân chủ yếu gây ra cận thị. Học hành càng cao, một số ngành nghề đặc biệt dùng máy vi tính hay kính hiển vi sẽ là bạn đồng hành với cận thị không sớm thì muộn. Xem ra thoát khỏi công việc hay thói quen dùng mắt trong cự ly gần không phải là dễ. Đôi khi đó là miếng cơm manh áo, thăng tiến, học lực. Thế nhưng chúng ta cũng nên chủ động quyết định cuộc đời mình, với các em nhỏ thì cha mẹ hay thầy cô phải bảo vệ mắt cho con em mình. Đừng làm việc nhiều với cự ly nhỏ hơn 35cm. Các nghiên cứu cho rằng, việc đồng tử co khi nhìn gần, cơ thể mi cũng bị co thắt kéo theo việc tăng sản xuất thủy dịch, làm tăng nhãn áp, gây giãn lồi ra phía trước của mắt. Hệ lụy là việc trục nhãn cầu dài ra cùng với phát sinh cận thị trục.

 Nên cho trẻ đi khám mắt 6 tháng 1 lần.     Ảnh: Trần Minh
Độ sáng đóng vai trò quan trọng Suy luận một cách logic thì chiếu sáng tốt sẽ giúp chúng ta không phải nhìn gần vào tài liệu, đồng tử co vừa phải, thể mi không bị co quắp quá đáng. Vô hình trung cận thị  do việc nhìn gần thái quá đã bị ngăn chặn nếu ta thực hiện tốt khâu này. Đèn vàng hay đèn quả lê hoặc đèn compac xem ra có vẻ không quan trọng nữa. Đơn giản chỉ là chiếu sáng tốt mà thôi. Nguồn sáng cho trẻ ở nhà nên để ở phía sau và trên cao. Nếu không thì cũng không nên để trực diện dễ gây chói lóa và sinh nhiệt.  Ngoài công suất chiếu sáng (đơn vị là lux) thì độ rọi foot candella cũng rất quan trọng. Độ rọi tối thiểu Emc là khái niệm quen dùng của các nhà thiết kế hệ thống chiếu sáng. Chiếu sáng trong lớp học thích hợp là 320-400 lux. Bóng đèn huỳnh quang mắc song song với hệ thống cửa sổ, balad điện tử được khuyến cáo cho chiếu sáng lớp học, tuy nhiên cũng nên tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời.

Tư thế ngồi học
Tư thế ngồi học phụ thuộc nhiều vào hệ thống bàn ghế và độ chiếu sáng. Nhìn chung nên để mặt trẻ cách sách vở khoảng 35-40cm, mặt bàn nên có độ vát khoảng 15-20 độ so với phương nằm ngang để trẻ khỏi cúi gằm. Tư thế tốt còn làm trẻ học đỡ mệt mỏi, tránh gù vẹo cột sống sau này.
Thời gian học tập và làm việc
Vẫn từ điều 1 nếu mắt bị bóc lột quá đáng, ngoài việc gây mỏi và nhức còn là việc phát sinh cận thị. Cơ thể mi từ chỗ có thể co giãn dẫn đến co quắp (giả cận thị) rồi đến cận thị thực sự là cả một quá trình. Thế nhưng không phải ai cũng biết dừng lại đúng lúc hay được can thiệp đúng lúc để thoát khỏi cận thị. Không phải các nhà giáo dục đồng tình với quan điểm học 45 phút nghỉ 5 phút mà các nhà nhãn khoa cũng vậy. 5 phút nghỉ ngơi cho mắt, ra sân chơi đùa là hình thức giảm stress rất tốt cho mắt. Các giáo viên có sáng kiến đổi chỗ luân phiên cho học sinh thiết nghĩ cũng là sáng kiến hay để trẻ thay đổi cự ly học tập và cường độ điều tiết cho mắt. Đừng nên làm việc bằng máy tính hay chơi game quá 5h một  ngày. Nếu bạn không để tâm đến lời khuyên này thì cận thị hay tăng số kính cận sẽ tìm đếm với bạn với xác suất lớn hơn 80%. Singapore là nước rất thành công trong việc giảm trẻ em bị cận thị. Bí quyết của họ là giảm giờ học, tăng giờ chơi, tăng thời gian sinh hoạt ngoại khóa.  Nếu trẻ đã bị cận thị thì nên khuyến khích trẻ không đeo kính khi học, đọc ở nhà. Làm như vậy sẽ giúp các em duy trì được năng lực điều tiết vốn có của mình. Nhìn ra xa vô cực (trên 5m) cũng giúp cho mắt giảm được điều tiết, giảm hình thành hay tăng số cận thị.
 Di truyền và những yếu tố khác
Một nghiên cứu 1.114 trường hợp cận thị ở Mỹ cũng cho thấy một vài điều thú vị. Di truyền lại được nhắc đến. Tuy nhiên di truyền thì không thể thay đổi được, vốn chúng ta không thể lựa chọn ai sẽ sinh ra mình. Trên quy mô quần thể thì người da trắng bị cận thị nhiều hơn da màu, nữ bị nhiều hơn nam. Với vùng Nam Á như Việt Nam thì có vẻ như là một ngoại lệ: người da màu đeo kính cận tăng nhanh chóng. Người ta giải thích quá trình đô thị hóa chóng mặt và chuyển đổi kinh tế là nguyên nhân thay đổi lối sống cho một bộ phận dân cư nơi đây, kèm theo là sự gia tăng cận thị. Tuổi sinh đẻ cao, mẹ nghiện thuốc lá, sinh non... dễ gây cận thị cho con cái hơn. Mặc dù đã mất công sức lưu tâm đến: học vị của cha mẹ, bệnh tật của mẹ, phát triển thể chất của con trong bụng mẹ và sau sinh, chỉ số phát triển khác của cơ thể... song nghiên cứu trên không đưa thêm được một khuyến cáo nào có sức mạnh đáng kể.
Chế độ dinh dưỡng
Có quá nhiều yếu tố dinh dưỡng được coi là để giúp đề phòng hay giảm tăng số cận. Các vitamin được khuyên dùng là A-C-E-B2-D. Các khoáng vi lượng kẽm, selene, brôm, magne, canxi... cũng được coi là có vai trò trong cận thị. Thế nhưng đa phần các nghiên cứu đều nhắc đến vai trò quan trọng của vitamin E, vitamin C và selene. Các vitamin và khoáng chất này nên được dùng hằng ngày như hình thức bổ sung vào thức ăn với liều nhỏ, dùng lâu dài. Do còn có lợi cho phát triển tim mạch, não bộ của trẻ đang lớn nên quan điểm dùng thực phẩm chức năng hay thực phẩm bổ sung là khá cởi mở. Các bậc cha mẹ nên quan tâm đến điều này bởi dùng thực đơn cưỡng bức đối với trẻ là điểu rất phức tạp và khó thực hiện. Trong khi đó thực phẩm chức năng lại làm chúng ta nhàn hạ hơn nhiều.
Rất có thể ai đó sẽ than phiền rằng tôi đã làm đủ những điều trên mà con tôi vẫn cận thị. Thế nhưng ít ra con cái bạn sẽ cận nhẹ hơn, ít tăng số hơn, ít biến chứng hơn là điều tôi dám chắc chắn.
BS. Hoàng Cương (BV Mắt TW)

Những dấu hiệu ở mắt cần phải đi khám ngay

“Phòng bệnh hơn chữa bệnh” đó là phương châm để bảo vệ sức khỏe từ bao đời nay. Ai cũng thấy đó là phương pháp hữu hiệu, rẻ tiền, an toàn nhưng không hề dễ thực hiện. Rất ít người ở thời còn sung sức lại chịu khó bỏ thời gian, tiền bạc đi truy tìm bệnh tật hay thực hiện nghiêm túc chế độ dinh dưỡng, khám bệnh định kỳ. Đối với đôi mắt, vốn quý của mỗi người cũng vậy. Bài viết sau xin đề cập về việc khám mắt.

Đừng quên khám mắt định kỳ Các bác sĩ mắt của Mỹ lên lịch thăm khám mắt trong đời người như sau:
- Lần đầu tiên ngay sau khi sinh ra bởi bác sĩ nhi hoặc bác sĩ mắt nếu thấy cần tư vấn.
- Lần thứ 2 khi trẻ được khoảng 3 tuổi, lứa tuổi được cho là đã có thị giác hai mắt, để phát hiện những vấn đề về lác hoặc khúc xạ, nếu có nhược thị thì vẫn còn cơ may cứu chữa.
- Lần thăm khám trước khi nhập học tiểu học, khoảng 6 tuổi, càng nên cho trẻ đi khám nếu thấy có vấn đề gì bất thường hoặc tiền sử gia đình có nhiều người mắc bệnh về mắt.
- Tuổi 13 cũng là tuổi nên cho trẻ đi khám thường quy thêm một lần nữa.
- Bắt đầu học đại học hoặc kết thúc trung học cũng là giai đoạn nên khám mắt để hướng nghiệp cho bản thân. Một số ngành nghề đòi hỏi con mắt tinh tường, hoạt động cường độ cao. Không phải ai cũng đáp ứng được những tiêu chuẩn về mắt của một số ngành nghề đặc biệt: phi công, chuyên gia máy tính...
- Sau tuổi 40, cứ 2 năm bạn nên khám mắt một lần để tầm soát bệnh glôcôm, lão thị...
- Sau 65 tuổi nên khám mắt hằng năm. Cùng với tuổi tác, bệnh đục thể thủy tinh, glôcôm, thoái hóa hoàng điểm cũng sẽ tăng tương ứng.
Nếu theo lịch trình như trên thì việc khám mắt có vẻ không làm bạn mất nhiều thời gian lắm. Thế nhưng đáng tiếc vẫn có nhiều người phải chịu cảnh mù lòa suốt đời vì quên khám mắt. Một số bạn trẻ đến tuổi vào đại học hoặc thi bằng lái môtô mới biết rằng một mắt của mình đã mù không biết từ bao giờ (nhược thị do không nhìn). Hóa ra họ bị viễn thị hoặc cận thị số cao ở một bên mà không hề biết, chỉ nhìn bằng một mắt còn lại. Khi phát hiện ra thì đã quá muộn. Sau tuổi 60 thì các vấn đề về mắt cũng tăng lên. Ngoài những bệnh do lão hóa: lão thị, đục thể thủy tinh, thoái hóa hoàng điểm thì một số  bệnh lý nội khoa khác cũng tham gia tàn phá con mắt như tiểu đường, tăng huyết áp...Chúng tôi gặp các bệnh nhân này ở 2 trạng thái. Nhóm hăng hái đi khám do các bệnh nhân này đã nghỉ hưu có nhiều thời gian nhàn rỗi, chăm đọc sách và tra cứu, con cái rất quan tâm đến sức khỏe các cụ. Nhóm lười đi khám phần lớn là những người bi quan, tủi thân do không ai quan tâm chăm sóc đến mình, kinh tế khó khăn nên để buông trôi các vấn đề về mắt. Cả hai trạng thái trên đều là thái quá và không có lợi cho bản thân bệnh nhân, gây khó khăn trong việc theo dõi và điều trị cho giới chuyên môn.

Khi nào nên đi khám mắt ngay?
- Cảm giác nhìn mờ nhiều và đột ngột.
- Cảm giác nhìn đôi: nhìn một thành hai.
- Nhìn thấy nhiều vật thể trôi nổi trước mắt, thấy chớp sáng trong mắt.
- Nhìn thấy vật méo mó hoặc xoắn vặn.
- Đỏ mắt nhiều.
- Đau nhức mắt nhiều.
Những dấu hiệu khác như nhìn hơi mờ, ngứa mắt, khô rát mắt, ruồi bay trước mắt, thấy có quầng đen, thay đổi về hình dáng mi nhãn cầu... cũng nên xếp lịch khám bác sĩ chuyên khoa mắt sớm.
Những vấn đề về mắt của người cao tuổi
Đục thể thủy tinh chắc chắn vẫn là nguyên nhân số 1 gây mù lòa cho người cao tuổi. Thật may là chúng ta đã có một vũ khí hữu hiệu để đương đầu với chúng đó là phẫu thuật. Mạng lưới chăm sóc mắt khắp các tỉnh thành đều có thể phẫu thuật tốt căn bệnh này. Bên cạnh đó là các đội phẫu thuật lưu động xuống tận các huyện vùng sâu, vùng xa phẫu thuật theo hẹn. Phương pháp Phaco từ một phẫu thuật kỹ thuật cao nay đã gần như phổ cập tại các tỉnh/thành đem lại con mắt tinh tường chỉ sau khoảng 15 phút phẫu thuật, gần như không đau đớn. Hằng năm chúng ta có khoảng 1 triệu người được mổ thể thủy tinh. Đây là phẫu thuật được thực hiện nhiều nhất trên thế giới hiện nay.
Khoảng 90% các bệnh nhân sẽ xuất hiện bệnh võng mạc tiểu đường sau 10 năm sống chung với bệnh tật. Mù lòa do bệnh võng mạc tiểu đường chiếm từ 5-10% tổng số người mù. Lịch thăm khám mắt cho bệnh nhân tiểu đường nói chung là khám ngay sau khi phát hiện tiểu đường. Sau đó khám lại hằng năm. Khi mang thai hoặc tiểu đường đã có biến chứng thì 6 tháng/1 lần. Tiểu đường týp 1, tiểu đường đã có biến chứng tăng sinh võng mạc đòi hỏi khám thường xuyên hơn. Các bệnh nhân nên tuân thủ lịch khám lại của các bác sĩ mắt.
Thoái hóa hoàng điểm: Khoảng 25% bệnh nhân trên 65 tuổi sẽ có vấn đề về hoàng điểm. Chắc chắn nếu không điều trị hoặc phòng ngừa thì họ sẽ bị mất thị lực trung tâm, không thể đọc sách hay lái xe, chất lượng cuộc sống sẽ đen tối như con mắt vậy. Điều trị thoái hóa hoàng điểm cho dù gần đây đã có nhiều tiến bộ nhưng nhìn chung vẫn là tốn kém nếu không nói là xa xỉ. Vì vậy phải nói lại quan điểm phòng bệnh sẽ tốt hơn chữa bệnh, đặc biệt đúng trong thoái hóa hoàng điểm. Dinh dưỡng được nói nhiều trong phòng thoái hóa hoàng điểm. Thực đơn hằng ngày nên có nhiều vitamin A, C, E và sắc tố như các loại rau xanh thẫm, hoa quả màu vàng đỏ. Các loại thuốc bổ mắt nếu cần.
BS. Hoàng Cương (BV Mắt Trung ương)

Ngừa tai nạn mắt dịp lễ hội, du xuân

Ai đó là bác sĩ, nhất lại là bác sĩ Khoa Chấn thương thì đã quá quen với các tai nạn con mắt xẹp lép đầy máu, bệnh nhân đau đớn và khuôn mặt tái mét luôn miệng run rẩy hỏi “có cứu được không bác sĩ?”. Gia đình, người thân của họ thì đứng đầy ở ngoài. Tất cả đều lo lắng vì “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay” mà. Trách nhiệm đè nặng lên giới chuyên môn chúng tôi, cả căng thẳng và xung đột nữa. Xong đợt điều trị thị lực của những bệnh nhân chấn thương nhãn cầu thường thiệt hại ít nhiều nếu không nói là đáng thất vọng. Bởi con mắt chỉ có thể tích 4cm3, cấu trúc thần kinh quang học rất tinh vi. Chấn thương dù là nhẹ cũng có thể gây xê dịch hay tổn hại cấu trúc bên trong của nó. Khả năng nhiễm khuẩn cực cao, các mô lại phần lớn không thể tái sinh như các mô phần mềm khác... Như vậy phải chủ động phòng ngừa, đừng để xảy ra chấn thương mắt.
47% tai nạn mắt xảy ra lứa tuổi 18-45, lứa tuổi lao động kiếm sống; 25% chấn thương mắt trên trẻ em. Như vậy tai nạn mắt tấn công vào dân số trẻ và các công dân tương lai. Phòng tránh tai nạn mắt muốn làm tốt phải có sự tham gia của toàn xã hội, các biện pháp phòng ngừa phải thường xuyên và rộng khắp.
Tai nạn có thể xảy ra mọi lúc mọi nơi. Thế nhưng ở nhà là nhiều nhất: 47%, khi vui chơi nhất là chơi thể thao: 15%, 16% do công việc, 12% do tai nạn giao thông, 14% là trong các hoàn cảnh khác.
Tai nạn sinh hoạt, tai nạn khi ở nhà: Cành cây trang trí dịp Tết chọc vào mắt, mỡ nóng bắn vào mắt, va đập hoặc bị vật sắc nhọn chọc vào khi vui đùa...
 Bác sĩ kiểm tra thị lực cho bệnh nhân bị chấn thương mắt do pháo nổ.  Ảnh: Hà Phương

Một số nguyên tắc quan trọng xử trí tai nạn mắt
Chúng ta nên nhớ mấy nguyên tắc sau đây khi sơ cứu cho bản thân và người thân nếu chẳng may bị tai nạn mắt:
- Không nên ấn đè mạnh hay day dịt vết thương ở mắt.
- Không nên cố gắng tự lấy dị vật đang ở trên mắt.
- Bị chất lỏng vào mắt gây bỏng nên rửa mắt dưới vòi nước khoảng 15 phút.
- Không tự tra nhỏ thuốc hay tra thuốc mỡ vào mắt.
- Với vết thương có chảy máu chỉ nên băng che, vết thương có sưng nề và bầm tím có thể đắp đá hoặc nước lạnh.
- Nếu bị bụi vào mắt có thể nhúng mắt vào bát hoặc cốc nước, mở mắt to và chớp mắt 4-5 lần để bụi trôi ra.
- Khám mắt ở cơ sở chuyên khoa gần nhất.
Đeo kính bảo hộ trong những công việc có thể nguy hiểm đến mắt là biện pháp phòng ngừa chính chứ không phải là độ khéo tay. Các bà nội trợ hãy hình dung kính sẽ hữu hiệu ra sao nếu bạn phải lau chùi nhà vệ sinh và khu bếp bằng các loại dịch tẩy rửa có độ acid hay xút cao, khi chúng ta lấy đồ trong vi sóng hay lò nướng hay đang xào nấu với chảo mỡ. Mở chai sâm-panh, chai bia, nắp lon trong những năm gần đây cũng gây nhiều tai nạn. Các đấng mày râu nên cẩn trọng khi thực hiện những thao tác này.  Còn trẻ em thì sao? Người lớn sểnh ra không để ý thì trẻ em có nguy cơ bị tai nạn. Ngày vui bỗng hóa buồn là do vậy. Dặn dò, tạo không gian vui chơi an toàn cho trẻ, giám sát là chưa đủ. Tai họa có khi chính là món quà hay đồ chơi chúng ta tặng trẻ em. Đầu xuân năm 2010, Bệnh viện Mắt TW đã cấp cứu hàng chục ca tai nạn do súng bắn bi, pháo hoa, pháo thăng thiên có xuất xứ từ Trung Quốc. Đành rằng trong những dịp lễ tết rất khó từ chối yêu cầu về đồ chơi của trẻ, nhưng chúng ta nên biết từ chối chính vì sự an toàn của chúng.
Các bác sĩ nhãn khoa khuyên các bậc cha mẹ nên xem kỹ những ghi chú trên đồ chơi, để từ đó chọn lựa được những món quà phù hợp với lứa tuổi và sự phát triển của trẻ. Tránh mua đồ chơi có những chi tiết nhọn, nhô ra hoặc có thể bắn ra được. Luôn để mắt đến trẻ khi chúng chơi những đồ chơi hoặc những trò chơi có nguy cơ gây chấn thương.
Tai nạn khi tham gia sửa chữa nhỏ, trang trí trong nhà cũng  không hiếm và thường rất nặng. Đeo kính bảo hộ và  cẩn trọng khi khoan tường, khi đóng đinh, khi dùng máy mài, máy đánh bóng, cưa cắt... vì những hoạt động này hay làm các mảnh vụn kim loại bắn ra xuyên vào mắt. Đừng để trẻ em đứng gần chỗ người lớn làm việc. Còn chính người lớn thì nên đeo kính hoặc tốt hơn là tấm che mặt bằng plastic khi tham gia những công việc có thể gây hại cho mắt.
Với nhiều người Việt Nam, cành đào cây quất và một vài loại cây cảnh khác là linh hồn của ngày Tết. Thế nhưng, ẩn chứa trong đó là những mối nguy hiểm: những bóng đèn nhấp nháy và những vật trang trí khác. Những nhánh đào chĩa ra có thể nguy hiểm cho mắt. Thế nên, bạn phải hết sức cẩn thận khi lại gần hoặc di chuyển cây cảnh trong nhà bạn. Nên treo những vật trang trí làm bằng thủy tinh cách xa tầm với của trẻ để tránh những tai nạn thương tích đáng tiếc.
Chơi thể thao, du lịch, dã ngoại: Nhiều người chọn các môn thể thao hay du lịch, dã ngoại làm thú vui trong những ngày đầu xuân.
Chấn thương mắt khi chơi thể thao là nguyên nhân phổ biến gây mù loà vĩnh viễn vì những tương tác khi chơi thể thao là rất mạnh. Tại Mỹ có khoảng 40.000 ca chấn thương mắt do chơi thể thao mỗi năm. Nếu không bảo vệ mắt đúng cách khi tham gia những môn thể thao như bóng rổ, bóng đá cũng như những môn thể thao dưới nước và những môn có dùng vợt bạn có thể gặp phải những chấn thương nghiêm trọng về mắt.
Phong trào cầu lông nghiệp dư trong các công sở, nhà trường, phường xóm ngày càng phát triển. Tai nạn về mắt do vậy cũng tăng tương ứng.
Mọi người nên chủ động dùng những dụng cụ bảo vệ mắt thích hợp cho từng môn thể thao.
Đi chơi xa chúng ta nên chuẩn bị một bộ sơ cứu y tế. Trong đó nên để một chai muối rửa mắt 0,9%, ít bông băng và thuốc sát khuẩn để khi cần có thể rửa mắt và băng mắt.
Tham gia giao thông: tần suất tham gia giao thông tăng đột biến, rượu bia, vội vàng và thiếu quan sát là nguyên nhân của nhiều tai nạn mắt. Các nước sử dụng ôtô nhiều đã giảm đáng kể tai nạn ôtô do dân trí, công nghệ phanh và túi hơi. Tai nạn ôtô ở các nước phát triển nay chỉ còn 5% trong các tai nạn mắt. Còn ở ta thì... đáng ghê sợ, phần lớn là tai nạn xe máy, kể cả có đội mũ và không đội mũ bảo hiểm. Tương tác lực quá mạnh trong tai nạn xe máy là nguyên nhân mù lòa của nhiều bệnh nhân trẻ rất đáng tiếc.
Không có cách nào khác, khi hạ tầng giao thông còn yếu kém, là ý thức của người tham gia giao thông. Một số người dễ sốc nổi kể cả khi uống rượu bia và không uống, ẩu vội và coi thường luật giao thông... Thật đáng sợ nếu những người này tham gia giao thông. Vậy chúng ta hãy tự răn mình: đã uống nhiều thì không lái xe và rằng hãy cẩn trọng khi ra đường.
  ThS.BS. Hoàng cương (BV Mắt TW)

Viêm mống mắt thể mi có thể gây mù lòa

Viêm mống mắt thể mi là phần trước của màng bồ đào, do đó bệnh này còn cótên gọi là viêm màng bồ đào trước. Bệnh hay tái phát từng đợt, nếu không được điều trị có thể dẫn tới tăng nhãn áp và gây mù loà vĩnh viễn.

Vì sao bị viêm mống mắt thể mi?
Những căn nguyên gây bệnh có thể kể tới gồm các yếu tố tại mắt và các nguyên nhân ở những cơ quan lân cận. Tại mắt có thể do: chấn thương mắt, sang chấn do phẫu thuật, tự kháng nguyên thuỷ tinh thể (do khuếch tán hoặc rách bao), nhẫn viêm giao cảm. Những yếu tố thuộc về các cơ quan lân cận như: viêm giác mạc, viêm củng mạc, nhiễm khuẩn răng, lợi, viêm xoang. Nguyên nhân toàn thân như nhiễm khuẩn trong các bệnh lao, giang mai, bệnh do virut, bệnh do ký sinh trùng, viêm cột sống dính khớp, viêm màng bồ đào, hội chứng Reiter, bệnh sarcoid, bệnh Behcet… Rối loạn chuyển hoá trong các bệnh diabete, goute… khi đó viêm màng bồ đào trước chỉ là triệu chứng của một bệnh toàn thân. Tuy nhiên, những yếu tố kể trên chỉ chiếm 20% số ca bệnh, còn đến 80% các trường hợp viêm mống mắt thể mi là chưa rõ nguyên nhân.
 Tổn thương viêm mống mắt thể mi cấp tính.
Đau nhức mắt, sốt, sợ ánh sáng - Hãy gặp bác sĩ ngay  
Bệnh nhân bị viêm mống mắt thể mi thường có các biểu hiện sau:đau nhức âm ỉ, đau nhiều hơn về ban đêm. Thị lực giảm sút ở mức vừa phải, cảm giác như có một màn sương mờ che trước mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng: chói mắt ở những mức độ nặng nhẹ khác nhau tùy từng bệnh nhân. So với viêm loét giác mạc, các triệu chứng có mức độ nhẹ hơn. Biểu hiện toàn thân bệnh nhân có thể sốt, kém ăn, kém ngủ, có một ít dử mắt. Khám thấy kết mạc cương tụ rìa, cương tụ sâu ở kết mạc, có thể thấy rất rõ những mạch máu giãn to, màu tím sẫm, ngoằn ngoèo. Mống mắt: sẫm màu, kém xốp, đồng tử co nhỏ và phản xạ ánh sáng giảm hoặc mất. Ở giai đoạn muộn của bệnh, đồng tử có thể bị méo mó do dính vào mặt trước thể thuỷ tinh. Thuỷ dịch bị vẩn đục, khám trên kính hiển vi sẽ thấy dấu hiệu Tyndall dương tính (+). Thuỷ tinh thể có những chấm sắc tố mống mắt bám ở mặt trước, nhiều khi những chấm, đám sắc tố mống mắt này xếp theo dạng vòng tròn tương ứng với bờ đồng tử. Mặt sau giác mạc có thể có tủa, đó chính là những chấm lắng đọng protein từ thuỷ dịch, đây là sản phẩm của quá trình viêm. Sờ phản ứng thể mi thì bệnh nhân đau tức là phản ứng dương tính. Những trường hợp bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn, các triệu chứng cơ năng không còn rõ nữa, hầu như chỉ còn dấu hiệu mắt mờ, lúc này các triệu chứng khám thấy cũng khác xa so với giai đoạn trước, chẳng hạn: mống mắt teo, bạc màu, có thể có hình ảnh núm quả cà chua do nghẽn đồng tử, thuỷ dịch ứ lại ở hậu phòng đẩy vồng mống mắt về phía giác mạc; đồng tử bị thu nhỏ, dính tít hoặc méo mó do dính vào mặt trước thuỷ tinh thể; phản xạ với ánh sáng của đồng tử lúc này sẽ bị hạn chế do dính, diện đồng tử có thể bị màng viêm che kín; thuỷ tinh thể, dịch kính có thể bị vẩn đục ở các mức độ khác nhau, do màng viêm cùng với thể thủy tinh đục che khuất, dấu hiệu đục dịch kính chỉ có thể được phát hiện bằng siêu âm; nhãn áp tăng thứ phát do nghẽn đồng tử, nghẽn vùng bè hoặc có thể hạ do teo thể mi.Phương pháp chữa trị
Điều trị căn nguyên: Tùy nguyên nhân của bệnh mà có thể phải phối hợp với các chuyên khoa liên quan để điều trị triệt để. Trường hợp không tìm được nguyên nhân thì phải dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng điều trị  bao vây và thường dùng phối hợp ít nhất hai loại kháng sinh.

Điều trị chống dính bằng thuốc atropin 1% nhỏ mắt 1 - 2lần/ ngày. Đây là loại thuốc cần được dùng càng sớm càng tốt, ngay sau khi phát hiện bệnh để tránh cho mống mắt không bị dính vào thuỷ tinh thể trong tư thế đồng tử co. Những ca bệnh nặng phải dùng dạng thuốc tiêm atropin 1/4mg pha lẫn với thuốc adrenalin 1mg tiêm vào dưới kết mạc vùng rìa phía có dính mống mắt để tách dính. Một lưu ý là chống chỉ định tuyệt đối dùng các thuốc co đồng tử.

Điều trị chống viêm: Tại mắt dùng  corticosteroids dạng thuốc tiêm để tiêm dưới kết mạc, tiêm cạnh nhãn cầu. Tra vào mắt dạng thuốc nước và thuốc mỡ. Thuốc chống viêm không steroids có thể dùng uống hoặc tiêm và nhỏ mắt phối hợp hoặc dùng ở giai đoạn củng cố.

Nâng cao thể trạng và tăng sức đề kháng bằng các thuốc: vitamin A, C, D và nhóm B. Băng che mắt hoặc cho bệnh nhân đeo kính râm để cho mắt được nghỉ ngơi.
Điều trị các di chứng:tăng nhãn áp thứ phát, đục thể thuỷ tinh là những di chứng thường gặp. Tuy nhiên, các trường hợp này dùng phương pháp phẫu thuật thường cho kết quả kém và rất hay tái phát. Vì vậy, đối với bệnh viêm mống mắt thể mi cần được chẩn đoán và điều trị sớm để tránh các biến chứng.
BS. Nguyễn Minh Hạnh

Trẻ hóa cửa sổ tâm hồn

Cuộc sống càng hiện đại, các thiết bị điện tử ngày càng tân tiến thì đôi mắt của con người ngày càng yếu đi. Thị giác của con người hoạt động có giới hạn và bản chất của nó là để nhìn xa, nếu suốt ngày làm việc với máy tính, cộng với khối lượng sổ sách cao ngất, tối đến lại làm bạn với tivi, chắc chắn thị giác sẽ bị quá tải, nhức mỏi mắt sẽ xuất hiện và gia tăng độ cận thị.
Để có đôi mắt khỏe, chúng ta phải biết cách chăm sóc đôi mắt thường xuyên với các phương pháp sau:
Nghỉ ngơi thị giác: Cứ mỗi 20 phút làm việc với máy tính, đọc sách… nên dừng lại, nhắm mắt và thư giãn hoặc nhìn xa một khoảng cách 6m. Động tác đơn giản này cho hiệu quả rất cao trong việc làm giảm căng thẳng do nhìn gần quá lâu. 
Ngồi ngay ngắn khi làm việc: Ngực và lưng thẳng, hai bàn chân chạm hoàn toàn mặt đất là cách ngồi làm việc khoa học nhất, vì nó sẽ giữ cho mắt cách sách hoặc màn hình máy tính một khoảng cách giống nhau. Cách ngồi này còn tránh tình trạng thoái hóa đốt sống cổ hay gặp ở những người làm việc văn phòng.
 
Cấu tạo của mắt.
Đủ ánh sáng:
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng đối với thị lực. Ánh sáng để làm việc gần phải có cường độ gấp 3 lần cường độ ánh sáng trong phòng. Nên sử dụng kết hợp đèn bóng tròn và đèn neon chiếu sáng từ sau và trên xuống sẽ tốt hơn cho mắt.
Chú ý tới khoảng cách: Khoảng cách lý tưởng để đọc sách là khoảng cách đo từ chỗ đầu ngón cái đến cùi chỏ. Khi viết nên cầm cách đầu bút khoảng 2,5cm để tránh phải nghiêng đầu để xem những gì ta đang viết. Khi đặt sách lên mặt bàn nên để nghiêng sách lên khoảng 10cm, như thế mắt sẽ đỡ mỏi.
Tích cực hoạt động ngoài trời: Vì các hoạt động này thường đòi hỏi thị giác xa hơn là thị giác gần.
Tập thể dục cho mắt thường xuyên: Đây là cách tốt nhất để duy trì độ linh hoạt và độ trong của mắt. Bạn có thể áp dụng bài tập sau: thẳng lưng, mặt hướng về phía trước, không cử động mặt, chuyển động tròng mắt lên, xuống, sang trái, sang phải. Chuyển động tròng mắt từ góc trên bên phải sang góc dưới bên trái, rồi lại từ góc trên bên trái sang góc dưới bên phải. Tiếp theo, cả hai mắt cùng chớp rồi lần lượt chớp từng mắt.
Ngủ đủ giấc: Ngủ không đủ giấc rất có hại cho mắt, bởi vậy trừ khi công việc quá bận, bạn không nên thức quá khuya. Buổi tối, trước khi đi ngủ, nhất là sau 22 giờ, bạn không nên uống quá nhiều nước để tránh bị sưng mắt khi ngủ dậy vào sáng hôm sau.
Dinh dưỡng đủ chất: Nên dùng nhiều thực phẩm giàu vitamin C, vitamin A và caroten, vì các chất này có tác dụng bổ gan sáng mắt, chống mệt mỏi cho mắt. Vitamin A chủ yếu có trong gan các loại động vật, dầu gan cá, lòng đỏ trứng. Caroten chủ yếu có trong cà rốt, cà chua, rau chân vịt, hẹ, quả hạnh, khoai lang và trong các loại quả có màu vàng. Vitamin C có trong rau quả.
Đeo kính râm khi đi nắng: Tia UVA và UVB từ mặt trời là “kẻ thù” gây ung thư da và suy giảm thị lực. Chính vì thế, bạn cần hạn chế để mắt tiếp xúc với ánh nắng mặt trời bằng cách đeo kính râm đủ tiêu chuẩn và đội mũ nón.
Dùng kính trợ giúp thị giác gần: Việc đeo kính trợ giúp cho thị giác gần như: đọc sách, học bài, may vá, vẽ tranh hay làm máy tính là rất cần thiết, đặc biệt đối với người bị các tật khúc xạ hoặc có bất đồng khúc xạ. Kính trợ giúp cho thị giác gần được đeo ngay cả khi thị lực là 10/10 và người đó vẫn chưa bị lão thị. Việc đeo kính này giúp làm việc gần thoải mái hơn, kéo dài hơn vì nó làm giảm các nỗ lực về mặt thị giác. 
  BS. Hiền Thu

Thực phẩm tốt cho mắt

Đôi mắt có một vai trò quan trọng nhất giúp con người cảm nhận, nhìn thấy cuộc sống muôn màu. Tuy nhiên, do thời gian tuổi tác, ô nhiễm môi trường, cường độ làm việc... đôi mắt không tránh khỏi mệt mỏi, già nua,... Những thực phẩm sau đây giúp cho mắt khỏe, đẹp... thậm chí tăng sức đề kháng phòng ngừa một số bệnh lý về mắt.
Thực phẩm chứa nhiều vitamin A: Vitamin A và tiền chất của nó (beta-carotene) có nhiều trong gan động vật, sữa bò, sữa cừu, sữa dê, lòng đỏ trứng gà, dầu gan cá, cà rốt… Các loại rau có lá xanh đậm như rau ngót, rau đay, rau dền, rau muống, rau lang, rau thơm… hoặc các loại quả màu vàng cam như gấc, đu đủ chín, cà rốt, cà chua… có chứa nhiều beta-carotene. Tiền chất này sẽ được men trong thành ruột và gan chuyển hóa thành vitamin A. Nếu ăn đầy đủ thực phẩm cung cấp vitamin sẽ hạn chế chứng quáng gà, bệnh khô mắt. Ở một người bình thường nhu cầu vitamin A hàng ngày người lớn 3.000 – 5.000 đơn vị mỗi ngày; trẻ em <10 tuổi 1.500 – 4.000 đơn vị mỗi ngày.
 
 Kẽm có nhiều trong hải sản.
Thực phẩm giàu vitamin B2:
Trong thiên nhiên, vitamin B2 có trong tất cả các tế bào sống. Các loại thực phẩm chúng ta dùng hằng ngày như: ngũ cốc, rau xanh, đậu các loại, thịt, trứng, sữa, tim, thận, gan, lách... đều có vitamin B2 (tỷ lệ mất vitamin B2 khi chế biến thức ăn khoảng 15 - 20%). Hàm lượng vitamin B2 trong động vật cao hơn thực vật. Vitamin B2 đảm bảo cho võng mạc và giác mạc chuyển hóa được bình thường. Nếu thiếu mắt sẽ bị ngứa, rát bỏng, sợ ánh sáng, chảy nước mắt.
 
Viêm bờ mi hoặc loét mi. Sung huyết mắt. Viêm kết mạc kết tụ quanh rìa. Viêm giác mạc chấm nông hoặc viêm kết, giác mạc bong. Dẫn đến hoại tử và loét sâu (không do vi khuẩn), quáng gà, đục nhân mắt... Nhu cầu vitamin B2 mỗi ngày cho cơ thể: tuỳ thuộc giới tính, lứa tuổi như: ở trẻ sơ sinh đến 6 tháng tuổi: 0,4mg; 6 - 12 tháng: 0,5mg;  4- 6 tuổi: 1,1mg; 15-18 tuổi: 1,8mg.  Sau tuổi đó lại thấp dần; từ 51 tuổi trở đi chỉ cần 1,2mg/ngày.
Thực phẩm chứa nhiều kẽm: Kẽm có nhiều trong hải sản nhiều nhất ở hàu, thịt bò, thịt lợn nạc… Kẽm được biết đến là một chất chống oxy hóa quan trọng đối với sức khỏe mắt và cần thiết cho chức năng hệ thống miễn dịch. Hàm lượng kẽm trong thực phẩm rất đa dạng và khác nhau. Tùy độ tuổi sẽ có nhu cầu kẽm khác nhau như: Giai đoạn 1-3 tuổi cần 3mg kẽm/ngày; Giai đoạn 4-8 tuổi cần 5mg kẽm/ngày.
  Bác sĩ Phan Hữu Phước

Chấn thương lệ đạo: Hậu quả và di chứng

(SKDS) - Chấn thương lệ đạo không hiếm gặp. Gần như ngày nào cũng có người bị tai nạn đứt lệ đạo đơn thuần hoặc phối hợp với các tổn thương khác đến cấp cứu tại Bệnh viện Mắt Trung ương. Hệ thống lệ (lệ bộ) bao gồm: tuyến lệ, đường dẫn lưu nước mắt bao gồm: lệ đạo, túi lệ, ngách lệ mũi. Đường dẫn lưu nước mắt khá dài, thế nhưng chấn thương lại hay tấn công vào lệ quản.
 
Đó là do: lệ quản gồm 2 ống nhỏ nằm ở mi trên và dưới, không được thành xương che chở và nằm trong chiều dày của mi, bộ phận che chở nhãn cầu nên hay chịu tổn thương cùng với mi. Lệ quản di động trước khi cố định tương đối vào máng lệ, một cấu trúc xương, do đó hay bị đứt trước các chấn thương giằng xé và di lệch mi. Vì lẽ đó, có nhiều nguyên nhân đa dạng có thể làm tổn thương mi mắt cũng như lệ quản: tất cả các sang thương góc trong của mắt, chấn thương đụng giập do các vật tù, ngã xe máy, ngã đập mắt và mặt xuống nền cứng...
 Sơ đồ hệ thống lệ đạo.
Các triệu chứng của chấn thương lệ đạo

Các nguyên nhân gây ra chấn thương lệ đạo
Đa phần gặp ở nam giới, tuổi thanh niên hoặc trung niên. Các nguyên nhân rất đa dạng: tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt (chiếm 70%), tai nạn giao thông (25%), ngoài ra còn gặp tai nạn do hỏa khí (5%).
Chấn thương mi hay đi kèm với chấn thương lệ đạo nhất bởi lẽ mi mắt như một người lính gác cổng cho cơ quan thị giác, mọi tác nhân sang chấn hay tác nhân gây bệnh đều đi qua mi rồi mới xâm nhập được vào nhãn cầu. Rất nhiều trường hợp may mắn nhờ có mi và động tác nhắm mi (một phản xạ bảo vệ rất có lợi) mà con mắt được bảo toàn, cũng có những trường hợp cả mi và nhãn cầu đều tổn hại do tác nhân sang chấn quá mạnh. Nhẹ thì mi cũng xây xát bầm máu, nặng hơn thì đứt đoạn rách nát. Chấn thương nhổ mi mắt ra khỏi chỗ bám của nó rất hay kèm theo đứt lệ quản, thường gặp trong những chấn thương mi nặng do trâu húc, chó cắn.
Chấn thương lệ đạo tùy theo dạng đơn thuần hay phối hợp sẽ có các triệu chứng như sau: Chảy máu: các vết thương mắt hay vùng đầu mặt nói chung sẽ chảy máu khá nhiều do tính chất mạch nuôi, vòng nối tuần hoàn phong phú.
Biến dạng giải phẫu: tùy tác nhân sang chấn, độ trầm trọng của chấn thương như: mi mắt bị gián đoạn, rách nát, đứt rời, mất tổ chức, đi lệch giải phẫu...; đường lệ bị gián đoạn hay mất một đoạn, có thể làm giảm hay mất khả năng dẫn lưu nước mắt, triệu chứng sẽ là chảy nước mắt; chấn thương hốc mắt, di lệch xương hốc mắt gây biến dạng và mất cân đối vùng mặt. Cảm giác của bệnh nhân có thể là: tê bì, dị cảm vùng quanh mắt tổn thương, song thị do kẹt cơ vận nhãn vào vùng vỡ của hốc mắt, mắt bị lồi ra hay thụt vào so với mắt bên kia.
Nếu có chấn thương nhãn cầu phối hợp thì càng nặng nề hơn, mắt mờ, chảy máu nhiều hơn, lòi các tổ chức nội nhãn, nhiều biến chứng và di chứng hơn, tỉ lệ mù lòa cũng cao tương ứng.
Toàn thân: đa chấn thương, chấn thương sọ - mặt đi kèm không phải là hiếm. Trong hoàn cảnh đó sẽ có các dấu hiệu đe dọa tính mạng, hôn mê, shock... Vỡ xương chính mũi làm chảy máu mũi ồ ạt thường kèm theo vỡ ngách lệ mũi, gây di chứng tắc lệ đạo đoạn trong xương mũi.
Bỏng da mi, mặt hay toàn thân: hiếm gặp hơn như bỏng kim loại nóng chảy, nổ bình ắc-quy, nổ cầu chì...
Hậu quả và di chứng
Chấn thương vào phần nào của phần phụ nhãn cầu cũng có những hậu quả, biến chứng  và di chứng của nó. Mi mắt có chức năng che chắn, bảo vệ nhãn cầu, giàn nước mắt trên bề mặt nhãn cầu, thẩm mỹ... do đó tổn thương mi có thể gây sẹo xấu, hở mi, hếch mi ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Nhãn cầu không được mi che chắn có thể  bị khô, loét, viêm nhiễm... gây mù loà về sau. Hệ thống dẫn nước mắt nếu bị cắt đứt sẽ gây chảy nước mắt kéo dài, phiền toái cho bệnh nhân, xấu về thẩm mỹ. Chảy nước mắt liên tục làm bệnh nhân rất ngại ra chỗ đông người, việc chấm chùi liên tục có thể làm viêm da mi, lật mi. Biến loạn của phim nước mắt do lệ đạo bị nghẽn tắc cũng làm thay đổi khúc xạ giác mạc, gây ảnh hưởng đến thị giác ban đêm, điều khiển phương tiện giao thông khó khăn.
Nếu hốc mắt bị gãy, vỡ, lún gây biến dạng trầm trọng cho vẻ cân đối của khuôn mặt. Gây kẹt thần kinh, cơ, mạch máu vào chỗ vỡ... ảnh hưởng đến chức năng mắt. Nhẹ thì mắt có thể bị lác hay nhìn đôi (song thị), mắt có thể bị lún vào sâu hay lồi ra, có thể vỡ kẹt vào vị trí nứt xương... rất nguy hiểm cho nhãn cầu. Đáng sợ nhất là mù lòa do tổn hại thần kinh mắt đoạn sau nhãn cầu. Chấn thương phần phụ nhãn cầu nếu kèm theo vỡ nhãn cầu hay dị vật... thì các tổn thương càng nghiêm trọng hơn, xử lý phức tạp hơn, khả năng mù loà cũng cao hơn.
 Không trang bị đủ đồ bảo hộ lao động bảo vệ mắt rất dễ bị tai nạn chấn thương mắt.
Điều trị và phòng ngừa chấn thương
lệ đạo như thế nào?
Các chấn thương lệ đạo thường gây chảy máu nhiều nên việc băng bó, sơ cứu hay khâu cầm máu khá quan trọng, tránh để shock do mất máu. Tuy nhiên nếu có vết thương thủng hay vỡ nhãn cầu thì ta không nên băng ép, các tổ chức nội nhãn sẽ phòi ra hết. Nên băng che hoặc dùng khiên bảo vệ mắt có lỗ sẽ tiện lợi hơn. Giảm đau tốt cho bệnh nhân, dùng kháng sinh liều đầu và phổ rộng, tiêm uốn ván nếu cần thiết...
Khâu phục hồi giải phẫu mi, nối lệ quản có đặt ống silicon qua một hoặc 2 lệ quản không phải là kỹ thuật quá khó nhưng phải được tiến hành trong môi trường chuyên khoa chấn thương chỉnh hình chuyên khoa mắt. Bệnh nhân nên được khám lại, cắt chỉ, rút ống ở các cơ sở chuyên khoa mắt để bảo lưu được kết quả phẫu thuật.
Các phương tiện và kỹ thuật mổ mới như: tube John, ống Mono-K, kỹ thuật mổ lệ đạo nội soi có đèn laser dẫn đường hứa hẹn sẽ giúp thêm nhiều bệnh nhân khỏi phải chảy nước mắt kéo dài.
Hạn chế chấn thương lệ đạo hay bất cứ loại chấn thương gì cũng cần nói ngay đến ý thức tự đề phòng tai nạn của mọi người. Phải trang bị các phương tiện bảo hộ lao động: mũ bảo hiểm, kính bảo hộ, hệ thống che chắn của máy móc. Việc đeo kính bảo hộ khi lao động, kính trắng khi đi đường hạn chế tai nạn hay giảm bớt tính nghiêm trọng của tai nạn khá nhiều.
BS. Hoàng Cương - BS.Nguyễn Tuyết Nga

Ngăn ngừa bị mù vĩnh viễn

(SKDS) - Đục thủy tinh thể (ĐTTT) là một căn bệnh rất phổ biến và là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở Việt Nam. Đa phần người bệnh đều rất chủ quan, cho rằng giảm thị lực là dấu hiệu của tuổi già, là bệnh không thể điều trị khỏi nên không đi khám bệnh, không chữa trị. Hiện cả nước có đến 251.700 người mù cả hai mắt do đục TTT và mỗi năm cả nước có thêm khoảng 170.000 trường hợp cần được điều trị do căn bệnh này.
Thế nào là đục thủy tinh thể?
Thể thuỷ tinh là một thấu kính trong suốt ở bên trong con mắt. Nó góp 1/3 vào năng lực hội tụ của nhãn cầu. Công suất hội tụ của thể thuỷ tinh được đảm bảo khi nó còn trong suốt, các mặt cong và độ dày còn nằm trong giới hạn sinh lý. Ngoài ra thể thuỷ tinh còn có chức năng lọc tia tử ngoại - tia có hại có trong phổ bức xạ của mặt trời. Khi các phân tử protein không hoà tan bị tích tụ trong thể thuỷ tinh cùng với tuổi tác thì tính trong suốt của nó không còn nữa. Các tia sáng khi đi qua vùng bị đục sẽ bị tán xạ mạnh gây giảm thị lực. Đục thể thuỷ tinh được coi là đáng kể khi nó làm giảm thị lực xuống còn < 3/10.
Bệnh của người già
Đục TTT là bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi xong gặp nhiều nhất ở người cao tuổi (có tới 80% số người mắc bệnh ở độ tuổi trên 50). Người bệnh bị đục thủy tinh thể mắt mờ tăng dần, thường kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm và dẫn tới mù lòa. Tuy nhiên, nhiều người già khi thấy mắt mình có những biểu hiện như vậy, trở nên kém tinh nhanh lại tưởng là già thì mắt phải như vậy, chứ hoàn toàn không nghĩ có thể điều trị phục hồi được.
Có nhiều nguyên nhân gây đục TTT, thường gặp nhất là do lão hóa, do bệnh lý về mắt (cận thị nặng, viêm nhiễm, chấn thương, thoái hóa...), bệnh toàn thân ảnh hưởng lên mắt (đái tháo đường, tăng huyết áp...), do dùng thuốc như corticoid, thuốc chống rối loạn tâm thần hoặc bẩm sinh (liên quan đến các yếu tố bất thường từ bào thai).
Nhận biết sớm
Ở người cao tuổi sự lão hoá xảy ra ở tất cả mọi bộ phận trong cơ thể, đôi mắt của họ cũng không là ngoại lệ. Mắt bị lão hóa, TTT bị ảnh hưởng do sự lão hoá sớm nhất, đến tuổi 40 TTT bắt đầu cứng, độ đàn hồi giảm, khả năng điều tiết giảm. Khi đó bệnh nhân nhìn xa rõ nhưng nhìn gần mờ và thấy nhanh mỏi mắt.
Đục TTT dễ xảy ra từ tuổi 60 trở đi, gây ra hiện tượng đục mờ TTT. Sự đục mờ này ngăn không cho tia sáng lọt qua, kết quả là võng mạc không thu được hình ảnh và thị lực bệnh nhân suy giảm dẫn đến mù lòa.
TTT (nhân mắt) bị xơ cứng, không thể phồng lên để thực hiện chức năng điều tiết khi nhìn gần gọi là hiện tượng lão thị ở người già. Theo thời gian, TTT không còn trong suốt nữa, mà trở thành mờ đục gây nên hiện tượng đục TTT (còn gọi là cườm). Hiện tượng này xảy ra ở 50% người lớn tuổi, khi mới bị thì nhìn xa thấy mờ, về sau nhìn gần cũng mờ, giơ bàn tay ra trước mắt cũng chỉ thấy bóng.
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có biểu hiện rõ rệt như vậy ngay từ ban đầu. Hơn nữa, bệnh này không gây đau nhức mắt khiến người bệnh càng chủ quan.Cũng có nhiều người chỉ thấy giảm thị lực đôi chút, chói mắt khi ra nắng khiến người bệnh chỉ đến khám khi bệnh đã nặng, rất khó chữa chạy. Nếu được phát hiện, điều trị sớm, 90% người bệnh được khôi phục lại thị lực.
Có tới 1/3 dân số Việt Nam chưa bao giờ đi kiểm tra mắt, kiểm tra thị lực. Đó cũng là nguyên nhân khiến tỷ lệ người bị mù lòa ở Việt Nam thuộc loại cao trong khu vực, trong đó mù lòa do đục TTT chiếm đến 70%.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị hiệu quả
Hiện nay, không thể phòng bệnh đục TTT một cách có hiệu quả. Điều quan trọng là phải đi kiểm tra mắt thường xuyên để phân biệt với những bệnh mù do nguyên nhân khác.
Đối với đục TTT ít, có thể cho bệnh nhân đeo kính, dùng kính lúp hoặc chiếu sáng tốt khi làm việc. Nếu những biện pháp này không có tác dụng, chỉ có phẫu thuật lấy TTT đục và đặt kính thay thế thủy tinh thể là cách điều trị hiệu quả nhất.
Thông thường phẫu thuật được chỉ định khi thị lực dưới 5/10 (có chỉnh kính) hoặc gây giảm thị lực cản trở sinh hoạt hằng ngày, chẳng hạn như lái xe, đọc sách hoặc xem tivi.
Trong một số trường hợp, đục TTT chưa gây giảm thị lực nhiều nhưng cần phải phẫu thuật để tạo thuận lợi cho việc khám, điều trị các bệnh mắt khác như bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già hoặc bệnh võng mạc tiểu đường.
 Các loại thủy tinh thể nhân tạo.
Sau phẫu thuật đục TTT, bệnh nhân cần che mắt bảo vệ (băng che mắt, kính mát...) để tránh gió bụi, hạn chế tiếp xúc với máy tính, đọc báo, xem tivi... trong vòng 1 tuần; rửa tay trước khi chạm vào mắt và sử dụng thuốc theo quy định; rửa mi mắt bằng gạc để lấy đi chất dịch bám vào mắt; tuyệt đối không dụi tay lên mắt, nháy mắt mạnh nhằm tránh xảy ra đè áp mạnh gây chấn thương mắt; ăn thức ăn dễ tiêu, tránh táo bón, tránh dùng các chất kích thích; tái khám đúng theo lịch hẹn (thường là sau 1 tuần và 1 tháng sau khi phẫu thuật).
 
Khi có các dấu hiệu: giảm thị lực, đau kéo dài mặc dù đã dùng thuốc giảm đau; đỏ mắt tăng; chớp sáng hoặc nhiều đốm đen trước mắt; buồn nôn, nôn hoặc ho nhiều... bệnh nhân nên tái khám sớm. Thông thường, mắt hồi phục thị lực tối đa trong vòng 8 tuần. Không nên đi bơi, tắm biển, chơi những môn thể thao mạnh trong vòng 3 tháng.  
  Bác sĩ Nguyễn Minh Hằng

Hậu quả khi bị nấm mắt?

Cách đây 1 năm, tôi bị ngứa ở mắt, chói mắt rất khó chịu. Tôi đi khám tại chuyên khoa mắt, được bác sĩ cho làm một số xét nghiệm và chẩn đoán bị nấm mắt. Bác sĩ cho thuốc điều trị nhưng khi hết thuốc tôi ngại đi khám lại nên vẫn sử dụng thuốc cũ đã kê đơn nhưng không thấy khỏi nên tôi rất lo lắng. Xin hỏi, bệnh nấm mắt có thể gây những hậu quả gì cho mắt?
Bùi Xuân Hằng(Thái Nguyên)
Bệnh nấm mắt có thể gặp ở nhiều đối tượng gây ra sự khó chịu và lo lắng cho bệnh nhân. Khi bị nấm mắt, người bệnh thường có biểu hiện chói mắt, cộm, nhói, đau. Có trên 50 loài nấm mốc tồn tại trong môi trường sống nhưng nguồn nhiễm nấm chủ yếu là từ thảo mộc, trong đó nấm sợi là chủ yếu. Trong điều trị nấm mắt, điều trị tại chỗ là chính nhưng yêu cầu người bệnh phải tuân thủ chỉ định điều trị, có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần.
 
 Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Trong thư, bạn không nói rõ bị nhiễm loại nấm gì, thuộc loại nặng nhẹ thế nào nhưng bạn đã được khám và kê đơn, bạn không nên bỏ dở điều trị vì nếu không thực hiện đúng chỉ định có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm cho mắt như viêm loét giác mạc, thủng giác mạc… dẫn tới mù loà.
BS. Nguyễn Thu Hà

Phục hồi chức năng thị giác - Không thể chậm trễ

(SKDS) - Theo nghiên cứu, 80% thông tin từ bên ngoài được con người tiếp nhận thông qua hệ thống thị giác, khi hệ thống này không hoàn chỉnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới những hoạt động trong cuộc sống, làm giảm đáng kể chất lượng sống. Việc phục hồi chức năng thị giác cho người khiếm thị rất cần thiết và không nên chậm trễ vì càng được phục hồi sớm thì cuộc sống của họ càng được cải thiện.
Một người được gọi là khiếm thị khi chức năng thị giác của người đó bị giảm nặng, thậm chí ngay cả khi đã được điều trị hoặc điều chỉnh tật khúc xạ tốt nhất nhưng thị lực ở mắt tốt chỉ ở mức dưới 6/18 (khoảng 3/10) cho đến còn phân biệt sáng tối (ST+) và/hoặc thị trường bị thu hẹp dưới 100 kể từ điểm định thị.
 
Khi thị giác bị tổn hại sẽ gây rất nhiều khó khăn trong cuộc sống độc lập hàng ngày của người khiếm thị, cản trở những hoạt động như đọc, viết, ăn, khâu vá, đi du lịch, giao tiếp và tiếp xúc với người khác. Việc trợ thị cho những người khiếm thị giúp họ có thể sử dụng phần thị giác ít ỏi của mình tốt hơn, giúp họ bớt khó khăn trong cuộc sống độc lập.
 Một trường hợp khiếm thị sử dụng kính lúp để học tập.
Thế nào là phục hồi chức năng thị giác
cho người khiếm thị?         
Khiếm thị có thể do rất nhiều bệnh lý hay những bất bình thường của con mắt gây ra. Một số nguyên nhân thường gặp như: cận thị nặng, sẹo giác mạc, đục thể thủy tinh, bệnh võng mạc sắc tố, võng mạc đái tháo đường, thoái hóa hoàng điểm, bệnh glôcôm, bệnh bạch tạng… Tuỳ thuộc vào mức độ của bệnh có thể gây khiếm thị ở mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng.
 
Phục hồi chức năng thị giác cho người khiếm thị bản chất không phải là một phương pháp điều trị để làm thay đổi tình trạng thị giác cho bệnh nhân mà thực chất là dùng các kính trợ thị để cải thiện sức nhìn, hướng dẫn luyện tập cách sử dụng từng loại trợ thị cho từng hoạt động trong cuộc sống và hướng dẫn cho họ cách cải thiện môi trường nhìn, cách định hướng di chuyển… để có thể độc lập trong sinh hoạt.
Các thiết bị trợ giúp người khiếm thị
- Các kính trợ thị quang học phóng đại: đây là loại trợ thị phổ biến nhất và cho hiệu quả cao nhất được ứng dụng trong phục hồi chức năng thị giác cho người khiếm thị, bản chất cấu tạo của nó dựa trên cơ chế phóng đại của các thấu kính hoặc hệ thống thấu kính, gồm các loại kính: Kính có tác dụng trợ thị gần: kính gọng phóng đại (high plus glasses), kính hiển vi nhìn gần (microscope), kính lúp (magnifiers); Kính có tác dụng trợ thị xa hoặc mở rộng trường nhìn: kính viễn vọng (telescope).
- Các thiết bị trợ thị phi quang học:  kính lọc màu; sách in cỡ chữ to; máy phóng đại: CCTV, projector, máy vi tính…; đèn chiếu sáng; giá đọc sách…
- Các thiết bị hỗ trợ ngoài thị giác: hỗ trợ xúc giác (gậy, điện thoại phím nổi…), hỗ trợ thính giác (đài, vô tuyến, máy tính phát âm…).
Đối với trẻ khiếm thị, việc chăm sóc khiếm thị lại càng cần phải được quan tâm bởi trẻ em dù khiếm thị vẫn có quyền đến trường, học tập như những đứa trẻ khác. Việc chăm sóc cho chúng đòi hỏi sự phối hợp giữa xã hội - nhà trường - gia đình - y tế.
Không thể chậm trễ việc phục hồi chức năng cho người khiếm thị. Đừng để cho người khiếm thị bị thiệt thòi bởi chất lượng cuộc sống bị giảm sút! 
ThS.BS.Nguyễn Thị Thu Hiền
(BV Mắt Trung ương)

Tổn thương mắt do nấm

Đau mắt đỏ (viêm kết mạc) là bệnh thường gặp quanh năm và ở mọi lứa tuổi. Nguyên nhân gây đau mắt đỏ là do vi khuẩn, virut, nấm… Đặc biệt, đau mắt do nấm nếu điều trị không đúng có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như loét giác mạc, thủng giác mạc… dẫn tới mù lòa. Báo Sức khỏe&Đời sống xin giới thiệu bài viết của BS. Hoàng Sinh về bệnh nấm mắt và cách điều trị.
 Nấm Aspergillus gây nấm mắt.
Các loại nấm gây bệnh ở mắt
Có trên 50 loài nấm mốc trong môi trường quanh ta. Tùy địa phương, tùy nhiệt độ, độ ẩm, môi trường, trình độ vệ sinh mà số mắt lành mang nấm chiếm từ 3-28%. Hàng rào biểu mô giác mạc kín, tốt, sạch là tấm chắn tốt nhất ngăn chặn không cho nấm xâm nhập mắt. Châu Âu không dùng từ nấm mắt (oculomycoses) mà họ dùng từ nấm giác mạc (kératomycoses). Bởi vì họ thấy phải qua tổn thương giác mạc nấm mới vào sâu được màng bồ đào và nội nhãn để gây bệnh nấm nặng cho con mắt. Nước ta á nhiệt đới, nóng, ẩm, nghề chính là nông nghiệp nên tỉ lệ bệnh nấm mắt cao. Nguồn nhiễm nấm chủ yếu là từ thảo mộc mà nấm sợi là chủ yếu. Nấm sợi Aspergillus gặp nhiều hơn nấm sợi Fusarium. Nhưng nếu bị nấm sợi Fusarium thì tổn thương sẽ nặng hơn là với nấm Aspergillus. Nhiễm nấm men tại mắt ít gặp hơn là nấm sợi. Tổn thương mắt do nấm men thường trên cơ địa mắt đã có các tổn thương trước đó (viêm giác mạc biểu mô dài ngày, chứng khô mắt, Herpes mắt, đeo kính tiếp xúc nhiều sau ghép giác mạc, người tra rỏ mắt bằng cortisol hoặc dùng cortisol đường toàn thân). Khi vào mắt, các loại nấm sợi và nấm men đều phát sinh các độc tố hoạt hóa các men phân hủy protein làm hủy hoại các màng mắt.
Dấu hiệu nhận biết khi nấm mắt
Ngoài cảm giác kệnh, nhói, chói mắt (của loét giác mạc nói chung), bệnh nhân còn cảm giác đau đớn thường xuyên rất khó chịu.
Khám mắt thấy tổn thương là các ổ loét bờ lên, đáy loét có các đám xuất tiết trắng vàng. Nếu có mủ tiền phòng thì là mủ quánh đặc, không có ngấn nằm ngang mà bám leo sau nội mô giác mạc. Nói chung, triệu chứng không điển hình lắm.
 Đau mắt đỏ điều trị không đúng dẫn đến loét giác mạc.
Chẩn đoán xác định:
Lấy bệnh phẩm qua nước mắt thì ít hiệu quả. Phải nạo giác mạc tổn thương để lấy bệnh phẩm, có khi phải nạo mấy lần. Ngoài soi trực tiếp còn phải nuôi cấy nấm trên thạch sabouraud. Có khi phải nuôi cấy chuyển tiếp nhiều lần.
Những chú ý trong điều trị nấm mắt:
- Thuốc nấm da không được đưa vào mắt (do không phù hợp về pH, độ thẩm thấu muối và độ kích ứng đối với mắt).
- Chủ yếu là điều trị tại chỗ, có khi mỗi giờ phải rỏ mắt 1 lần, trong nhiều ngày, nhiều tuần.
- Có 4 loại thuốc chính đang được dùng điều trị nấm mắt:
+ Nhóm polyester (amphotéricin B, natamycin).
+ Nhóm zimydazon (5 fluoro  tiroxin).
+ Nhóm sulfamid trộn bạc (cụ thể là sulfadiazin trộn bạc, vừa diệt nấm, vừa diệt khuẩn).
+ Natamycin 5% là loại thuốc rỏ nước, rất tốt với nấm sợi Aspergillus.
Nếu khó xác định loại nấm thì cứ dùng amphotéricin B, dùng thêm fluconason cho đường toàn thân. Nên làm kháng nấm đồ, xem loại nấm gây bệnh mắt đó đặc hiệu với thuốc gì nhất để điều trị cho hiệu quả. Nhiều khi phải nạo biểu mô giác mạc để thuốc ngấm được nhanh và nhiễm vào các lớp tổn thương sâu.
Đề phòng nấm mắt: Tác nhân chính là nấm mốc từ thảo mộc nên khi lao động có tiếp xúc với cây cỏ cần phải tránh để chúng va quệt, rơi bắn vào mắt. Khi đang làm việc có va chạm với chúng thì phải rửa tay bằng xà phòng sạch, rồi rửa mặt, giặt thật sạch khăn bằng xà phòng ngay sau khi rửa. Đừng để khăn rửa mặt mọc nấm mốc. Năng giặt khăn bằng xà phòng và năng phơi khăn ra chỗ nắng; Tránh phơi khăn mặt và quần áo trên dây mây, sào tre nứa, dễ tiếp xúc với nấm mốc; Không được tùy tiện dùng cortisol khi đau mắt vì sẽ giải phóng bào tử nấm, làm bệnh nấm mắt nặng thêm; Bị đau mắt sau khi bị va quệt với cỏ cây (dù là tươi hay khô, mục) đều phải cảnh giác với nhiễm nấm mắt, đi khám sớm để được điều trị sớm. 
BS. Hoàng Sinh